Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế "Quy tắc Taylor mở rộng với tỷ giá hối đoái - Nghiên cứu thực nghiệm tại một số quốc gia Đông Nam Á" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Hà Thạch, chuyên ngành Tài chính (mã số: 9340201), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo và PGS. Nguyễn Hữu Huy Nhựt tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2019.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong điều hành chính sách tiền tệ (CSTT), các ngân hàng trung ương (NHTƯ) đối mặt với sự lựa chọn giữa phương pháp tiếp cận tùy nghi và phương pháp tiếp cận theo quy tắc. CSTT tùy nghi cho phép cơ quan quản lý phản ứng linh hoạt trước các cú sốc ngắn hạn nhưng dễ dẫn đến hiện tượng không nhất quán theo thời gian (time-inconsistency) và thiên vị lạm phát. Ngược lại, điều hành theo quy tắc (tiêu biểu là quy tắc Taylor) hỗ trợ nâng cao tính minh bạch, giảm thiểu bất định và neo giữ kỳ vọng lạm phát của công chúng.
Tuy nhiên, quy tắc Taylor gốc chỉ xem xét lạm phát và khoảng cách sản lượng, chưa bao hàm tác động của tỷ giá hối đoái (TGHĐ) – một biến số vĩ mô quan trọng đối với các nền kinh tế mở và các thị trường mới nổi. Bên cạnh đó, quy tắc Taylor tuyến tính giả định hàm phản ứng đối xứng của NHTƯ. Trong thực tế, NHTƯ có thể gán trọng số khác nhau cho các cú sốc lạm phát hoặc sản lượng âm và dương, dẫn đến hành vi điều hành phi tuyến tính theo trạng thái chu kỳ kinh doanh. Tại khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu dừng lại ở việc xem xét quy tắc Taylor gốc dạng nhìn về quá khứ mà chưa tiếp cận toàn diện quy tắc Taylor phiên bản hướng tới tương lai, quy tắc Taylor mở rộng với TGHĐ và dạng hàm phi tuyến.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là kiểm tra khả năng áp dụng của quy tắc Taylor tuyến tính hướng tới tương lai, quy tắc Taylor mở rộng với TGHĐ và quy tắc Taylor phi tuyến trong việc mô tả hành vi thiết lập lãi suất của các NHTƯ tại khu vực Đông Nam Á. Luận án tập trung giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Chính sách tiền tệ của NHTƯ tại một số quốc gia khu vực Đông Nam Á có thể được mô tả bởi quy tắc Taylor tuyến tính và quy tắc Taylor tuyến tính mở rộng với tỷ giá hối đoái hay không?
- Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: NHTƯ tại các quốc gia được nghiên cứu có điều hành CSTT theo quy tắc Taylor phi tuyến? Hay nói một cách khác, NHTƯ có phản ứng khác nhau với lạm phát trên hoặc dưới mức ngưỡng không?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hành vi điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc thiết lập công cụ lãi suất của các NHTƯ theo quy tắc Taylor tuyến tính và phi tuyến.
- Không gian nghiên cứu: 05 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực Đông Nam Á, bao gồm Indonesia (ID), Malaysia (MY), Philippines (PH), Thái Lan (TL) và Việt Nam (VN). Trong đó, Indonesia, Philippines và Thái Lan áp dụng khuôn khổ lạm phát mục tiêu (LPMT), còn Malaysia và Việt Nam không theo khuôn khổ LPMT.
- Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu chuỗi thời gian theo tháng thu thập trong giai đoạn từ tháng 01/2000 đến tháng 12/2016, bao quát cả giai đoạn trước, trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007–2008.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây
Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc theo các mạch nội dung trọng tâm:
-
Tranh luận giữa CSTT tùy nghi và CSTT theo quy tắc:
- Kydland và Prescott (1977), Barro và Gordon (1983) chứng minh rằng điều hành tùy nghi tạo ra thiên vị lạm phát do khu vực tư nhân điều chỉnh kỳ vọng.
- Taylor (1993, 2000, 2013a, 2013b), Meltzer (1993), Mayer (1993), Svensson (1999), Orphanides và Williams (2007), Walsh (2010) ủng hộ việc điều hành theo quy tắc để duy trì tính nhất quán và uy tín của NHTƯ.
- Bên cạnh quy tắc Taylor, các quy tắc khác được điểm lại bao gồm quy tắc số lượng tiền tệ (Friedman) và quy tắc thu nhập danh nghĩa mục tiêu - NIT (McCallum, 1988, 1993, 1999; Meade, 1978; Tobin và cộng sự, 1980; Hall và Mankiw, 1994; Rudebusch, 2002).
-
Quy tắc Taylor tuyến tính và hướng mở rộng với tỷ giá hối đoái:
- Clarida, Galí và Gertler (1998, 2000) xây dựng khung phân tích quy tắc Taylor hướng tới tương lai (forward-looking) cho nhóm G3 và E3, sử dụng phương pháp GMM.
- Ball (1999, 2000), Svensson (2000, 2003), Batini và cộng sự (2003), Leitemo và Söderström (2005), Wollmershäuser (2006), Adolfson (2007) phát triển cơ sở lý thuyết đưa TGHĐ vào hàm phản ứng của NHTƯ trong nền kinh tế mở.
- Calvo và Reinhart (2002) nêu hiện tượng "sợ thả nổi" (fear of floating). Các nghiên cứu thực nghiệm của Mohanty và Klau (2005), Moura và De Carvalho (2010), Aizenman và cộng sự (2011), Galimberti và Moura (2013), Ghosh và cộng sự (2016) khẳng định vai trò của TGHĐ đối với CSTT tại các nền kinh tế mới nổi (EMEs).
-
Mở rộng quy tắc Taylor gắn với ổn định tài chính:
- Käfer (2014) hệ thống hóa 4 hướng mở rộng gắn với ổn định tài chính: TGHĐ, giá tài sản, tín dụng/đòn bẩy, và chênh lệch lãi suất, cùng với chỉ số điều kiện tài chính - FCI (Castro, 2011; Baxa và cộng sự, 2013; Albulescu và cộng sự, 2013).
- Tranh luận về phản ứng với giá tài sản giữa Bernanke và Gertler (1999, 2001) (chỉ phản ứng khi ảnh hưởng đến dự báo lạm phát) và Cecchetti (2000), Cecchetti và cộng sự (2002, 2003) (NHTƯ nên phản ứng chủ động với bong bóng giá tài sản).
-
Quy tắc Taylor phi tuyến:
- Hamilton (1989), Dolado và cộng sự (2000, 2005), Taylor và Davradakis (2006), Surico (2007), Cukierman và Muscatelli (2008), Castro (2008, 2011), Martin và Milas (2004, 2013) chỉ ra sự bất đối xứng trong hàm tổn thất của NHTƯ.
- Nghiên cứu tại các thị trường mới nổi gồm Hasanov và Omay (2008), Akyurek và cộng sự (2011) tại Thổ Nhĩ Kỳ; Miles và Schreyer (2012) tại 4 nước châu Á; Akdoğan (2015) trên mẫu 19 quốc gia lạm phát mục tiêu.
-
Nghiên cứu quy tắc Taylor tại Việt Nam:
- Liên (2010) đánh giá giai đoạn 2000–2008; Tuấn (2013) nghiên cứu giai đoạn 2006–2012 đối với lãi suất chiết khấu; Ân (2016) phân tích giai đoạn 2000–2014 qua trần lãi suất huy động. Các tác giả đều chỉ sử dụng dạng mô hình gốc, chưa tích hợp kỳ vọng tương lai và dạng hàm phi tuyến.
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án lấp đầy khoảng trống thực nghiệm bằng cách: (i) kiểm định đồng thời quy tắc Taylor tuyến tính hướng tới tương lai và quy tắc mở rộng với TGHĐ cho 5 nước Đông Nam Á; (ii) áp dụng mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR) để đánh giá hành vi phi tuyến và xác định giá trị ngưỡng lạm phát trong điều hành CSTT.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Quy tắc Taylor gốc (Taylor, 1993) có dạng:
$$i_t = r^* + \pi_t + \alpha_\pi (\pi_t - \pi^) + \alpha_y (Y_t - Y_t^)$$
Trong đó $i_t$ là lãi suất danh nghĩa mục tiêu, $r^$ là lãi suất thực cân bằng, $\pi_t$ là lạm phát thực tế, $\pi^$ là lạm phát mục tiêu, $Y_t$ là sản lượng thực tế và $Y_t^*$ là sản lượng tiềm năng.
Khi xem xét yếu tố làm mượt lãi suất (interest rate smoothing) và mở rộng cho nền kinh tế mở có tính đến ổn định tài chính (Käfer, 2014), mô hình mở rộng có dạng:
$$i_t = \bar{r} + \pi_t + \alpha_\pi (\pi_t - \pi^) + \alpha_y (Y_t - Y_t^) + \alpha_x (X_t - X^*)$$
với $X_t$ đại diện cho biến tỷ giá hối đoái hoặc biến ổn định tài chính.
Cơ chế truyền dẫn CSTT được xem xét qua các kênh: kênh lãi suất, kênh tỷ giá hối đoái, kênh giá tài sản, kênh tín dụng (Mishkin, 2013) và kênh kỳ vọng (Mukherjee & Bhattacharya, 2011).
Quy trình và phương pháp nghiên cứu
Quy trình phân tích định lượng được thực hiện qua 6 bước:
- Thu thập số liệu: Dữ liệu chuỗi thời gian hàng tháng từ tháng 01/2000 đến tháng 12/2016.
- Tính toán và chuyển đổi dữ liệu: Sử dụng bộ lọc Hodrick-Prescott (HP) để ước tính xu hướng sản lượng tiềm năng và tính khoảng cách sản lượng (KCSL); tính tỷ lệ lạm phát từ chỉ số giá tiêu dùng (CPI); xác định biến động tỷ giá hối đoái.
- Thống kê mô tả dữ liệu: Tổng hợp đặc trưng phân phối của các chuỗi dữ liệu (Bảng 3.1).
- Kiểm tra tính dừng của dữ liệu: Thực hiện các kiểm định nghiệm đơn vị (Bảng 3.2).
- Ước lượng quy tắc Taylor tuyến tính:
- Sử dụng phương pháp Moment tổng quát (GMM) theo Clarida, Galí và Gertler (1998, 2000) nhằm xử lý các biến kỳ vọng không quan sát được và khắc phục hiện tượng nội sinh/sai lệch đồng thời giữa các biến giải thích.
- Tập biến công cụ gồm: hằng số cố định, lãi suất trễ, tỷ giá hối đoái và các độ trễ từ 1–6, 9, 12 của lạm phát và khoảng cách sản lượng (Castro, 2011).
- Ước lượng quy tắc Taylor phi tuyến:
- Sử dụng mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR - Smooth Transition Regression), cho phép tham số thay đổi mượt mà giữa các chế độ nội sinh.
- Các dạng hàm chuyển tiếp được xem xét:
- Hàm Logistic bậc 1 (LSTR1): $G(\gamma, c, s_t) = [1 + \exp(-\gamma (s_t - c))]^{-1}, \gamma > 0$
- Hàm Logistic bậc 2 (LSTR2): $G(\gamma, c, s_t) = [1 + \exp(-\gamma (s_t - c_1)(s_t - c_2))]^{-1}, \gamma > 0, c_1 \le c_2$
- Hàm dạng mũ (ESTR): $G(\gamma, c, s_t) = 1 - \exp(-\gamma (s_t - c)^2), \gamma > 0$
- Thực hiện kiểm định tính tuyến tính để lựa chọn dạng hàm phù hợp (kiểm định biến chuyển tiếp $s_t$ là lạm phát) và ước lượng tham số.
| Nhóm mô hình |
Dạng mô hình |
Phương pháp ước lượng |
Biến số chính |
| Tuyến tính |
Quy tắc Taylor gốc & động |
GMM |
Lãi suất trễ, lạm phát, KCSL |
| Mở rộng tuyến tính |
Quy tắc Taylor mở rộng TGHĐ |
GMM |
Lãi suất trễ, lạm phát, KCSL, TGHĐ |
| Phi tuyến |
STR (LSTR1, LSTR2, ESTR) |
NLS / Hồi quy phi tuyến |
Biến chuyển tiếp: Lạm phát; Biến giải thích: Lãi suất trễ, lạm phát, KCSL, TGHĐ |
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể, nêu rõ lý do chọn đề tài dựa trên các tranh luận học thuật về mục tiêu của CSTT và sự cần thiết phải kiểm định quy tắc Taylor cho các nền kinh tế mở đang phát triển. Chương này xác định mục tiêu nghiên cứu, 2 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi phân tích tại 5 quốc gia Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam) giai đoạn 2000–2016. Chương 1 cũng trình bày tóm tắt 6 bước phương pháp nghiên cứu, các đóng góp mới về mặt lý thuyết và thực tiễn, cùng bố cục 5 chương của luận án.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ QUY TẮC TAYLOR
Chương 2 thực hiện phân tích và hệ thống hóa lý thuyết học thuật:
- CSTT và quy tắc Taylor: Trình bày chi tiết cơ sở lý luận của phương pháp tiếp cận tùy nghi và tiếp cận theo quy tắc. Phân tích quy tắc Taylor gốc, quy tắc Taylor tuyến tính hướng tới tương lai và quy tắc Taylor phi tuyến.
- Cơ sở lý thuyết quy tắc Taylor và ổn định tài chính: Phân tích các khái niệm về ổn định tài chính từ góc nhìn của các NHTƯ lớn (Thụy Sĩ, Đức, Úc, Anh, ECB). So sánh quan điểm truyền thống (chỉ tập trung vào giá cả/sản lượng) và quan điểm chủ động (tích hợp ổn định tài chính vào hàm phản ứng CSTT). Trình bày cơ chế truyền dẫn qua các kênh: lãi suất, TGHĐ, giá tài sản, tín dụng.
- 5 hướng mở rộng của quy tắc Taylor: Điểm lại các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về quy tắc Taylor mở rộng với: (1) Tỷ giá hối đoái; (2) Giá tài sản (cổ phiếu, bất động sản); (3) Tín dụng/đòn bẩy; (4) Chênh lệch lãi suất; (5) Chỉ số điều kiện tài chính (FCI).
- Tổng quan CSTT tại 5 quốc gia Đông Nam Á: Mô tả khuôn khổ điều hành CSTT, mục tiêu hoạt động và công cụ chính sách tại Indonesia (Bank Indonesia), Malaysia (Bank Negara Malaysia), Philippines (Bangko Sentral ng Pilipinas), Thái Lan (Bank of Thailand) và Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU
Chương 3 thiết lập đặc tả toán học và kinh tế lượng cho các mô hình nghiên cứu:
- Xây dựng phương trình quy tắc Taylor tuyến tính động hướng tới tương lai và quy tắc mở rộng với TGHĐ.
- Thiết lập mô hình phi tuyến STR và các dạng hàm chuyển tiếp (LSTR1, LSTR2, ESTR).
- Trình bày quy trình kiểm định tính dừng (Bảng 3.2), thống kê mô tả chuỗi dữ liệu hàng tháng (Bảng 3.1) của 5 quốc gia.
- Xác định quy trình kiểm định tính tuyến tính nhằm kiểm tra sự tồn tại của tính phi tuyến và lựa chọn dạng hàm chuyển tiếp tối ưu với biến ngưỡng lạm phát.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương 4 báo cáo kết quả ước lượng thực nghiệm:
- Ước lượng quy tắc Taylor tuyến tính:
- Báo cáo kết quả hồi quy GMM cho từng quốc gia: Indonesia (Bảng 4.1), Malaysia (Bảng 4.2), Philippines (Bảng 4.3), Thái Lan (Bảng 4.4) và Việt Nam (Bảng 4.5).
- Kết quả xác nhận quy tắc Taylor tuyến tính mô tả phù hợp hành vi thiết lập lãi suất tại cả 5 quốc gia. Biến lãi suất trễ đều mang ý nghĩa thống kê cao, phản ánh xu hướng làm mượt lãi suất của các NHTƯ.
- Khi mở rộng với TGHĐ: Biến TGHĐ có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích điều hành lãi suất tại Malaysia và Philippines, nhưng không có ý nghĩa thống kê tại Indonesia, Thái Lan và Việt Nam.
- Ước lượng quy tắc Taylor phi tuyến:
- Kiểm tra tính tuyến tính với biến ngưỡng lạm phát (Bảng 4.6 và Bảng 4.7) cho thấy: Việt Nam không tồn tại tính phi tuyến (mô hình tuyến tính là phù hợp nhất); trong khi Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan có tính phi tuyến và hàm LSTR1 là dạng hàm thích hợp nhất.
- Ước lượng mô hình phi tuyến LSTR1 (Bảng 4.8 và Bảng 4.9) và kiểm tra sự tồn tại tính phi tuyến (Bảng 4.10): Xác nhận hành vi điều hành phi tuyến tại Indonesia, Malaysia và Philippines.
- Xác định và biểu diễn đồ thị giá trị ngưỡng của biến lạm phát trong các mô hình phi tuyến tại Indonesia, Malaysia và Philippines (Hình 4.1 đến Hình 4.6).
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Chương 5 đúc kết các phát hiện nghiên cứu chính, trình bày các đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn, đề xuất hàm ý điều hành CSTT cho từng NHTƯ trong khu vực, đồng thời nêu rõ các hạn chế nghiên cứu và định hướng mở rộng đề tài.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về cơ sở lý thuyết
- Hệ thống hóa toàn diện lý thuyết quy tắc Taylor: Luận án tổng hợp và chuẩn hóa khung lý thuyết về điều hành CSTT theo quy tắc và tùy nghi, làm rõ tiến trình phát triển từ quy tắc Taylor gốc đến các dạng tuyến tính hướng tới tương lai và phi tuyến.
- Khái quát các hướng mở rộng gắn với ổn định tài chính: Luận án hệ thống hóa 4 hướng mở rộng chính của quy tắc Taylor (TGHĐ, giá tài sản, tín dụng, chênh lệch lãi suất) và hướng tiếp cận chỉ số tổng hợp FCI, cung cấp cơ sở học thuật để các nghiên cứu tiếp theo lựa chọn biến số mở rộng phù hợp với đặc thù từng nền kinh tế.
Đóng góp về thực tiễn
- Bằng chứng về quy tắc Taylor tuyến tính tại 5 nước Đông Nam Á: Luận án chứng minh quy tắc Taylor tuyến tính mô tả tốt hành vi thiết lập lãi suất của các NHTƯ tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2000–2016.
- Vai trò của tỷ giá hối đoái trong hàm phản ứng:
- Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đáng kể đến việc thiết lập lãi suất của NHTƯ Malaysia và Philippines, chứng minh NHTƯ tại hai quốc gia này cân nhắc biến động TGHĐ khi điều hành CSTT.
- Biến TGHĐ không có ý nghĩa thống kê đối với quyết định lãi suất của NHTƯ Indonesia, NHTƯ Thái Lan và NHNN Việt Nam.
- Bằng chứng thực nghiệm về tính phi tuyến:
- Kiểm định tuyến tính cho thấy mô hình phi tuyến không phù hợp để giải thích CSTT tại Việt Nam (mô hình tuyến tính là thích hợp).
- Ngược lại, CSTT tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines phù hợp với mô hình chuyển tiếp trơn dạng Logistic bậc 1 (LSTR1).
- Kết quả ước lượng xác nhận hành vi phản ứng phi tuyến rõ nét tại Indonesia, Malaysia và Philippines, chỉ ra rằng NHTƯ tại các quốc gia này có mức độ phản ứng lãi suất khác nhau khi lạm phát vượt qua hoặc nằm dưới mức ngưỡng xác định.
| Quốc gia |
Khung CSTT |
Quy tắc Taylor tuyến tính |
Ảnh hưởng của TGHĐ |
Mô hình phi tuyến phù hợp |
Hành vi phi tuyến thực nghiệm |
| Indonesia |
Lạm phát mục tiêu |
Phù hợp |
Không có ý nghĩa |
LSTR1 |
Có phản ứng phi tuyến |
| Malaysia |
Không LPMT |
Phù hợp |
Có ý nghĩa |
LSTR1 |
Có phản ứng phi tuyến |
| Philippines |
Lạm phát mục tiêu |
Phù hợp |
Có ý nghĩa |
LSTR1 |
Có phản ứng phi tuyến |
| Thái Lan |
Lạm phát mục tiêu |
Phù hợp |
Không có ý nghĩa |
LSTR1 |
Phù hợp dạng hàm LSTR1 |
| Việt Nam |
Không LPMT |
Phù hợp |
Không có ý nghĩa |
Không phù hợp (dạng tuyến tính) |
Không có hành vi phi tuyến |
Hàm ý và kiến nghị chính sách
- Các NHTƯ Malaysia và Philippines nên cân nhắc chính thức hóa việc tích hợp biến tỷ giá hối đoái vào quy tắc Taylor khi xây dựng kịch bản điều hành lãi suất.
- Các NHTƯ Indonesia, Malaysia và Philippines cần tính toán đến tính phi tuyến và hiệu ứng ngưỡng của lạm phát, từ đó có các bước điều chỉnh lãi suất tương ứng với từng trạng thái của chu kỳ kinh tế thay vì áp dụng một phản ứng tuyến tính cố định.
- Đối với Việt Nam, kết quả cho thấy NHNN điều hành theo mô hình tuyến tính và biến TGHĐ chưa tham gia trực tiếp vào phương trình phản ứng lãi suất theo quy tắc Taylor trong giai đoạn nghiên cứu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ các hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo như sau:
- Phạm vi biến số mở rộng: Luận án mới chỉ tập trung phân tích sâu quy tắc Taylor mở rộng với biến tỷ giá hối đoái (ở cả dạng tuyến tính và phi tuyến).
- Hướng nghiên cứu xa hơn: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng kiểm định quy tắc Taylor với các yếu tố ổn định tài chính khác như giá tài sản (chứng khoán, bất động sản), tín dụng, chênh lệch lãi suất, hoặc chỉ số tổng hợp điều kiện tài chính (FCI).
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu tháng giai đoạn 2000–2016 tại 5 quốc gia Đông Nam Á; các nghiên cứu sau có thể cập nhật chuỗi thời gian mới hơn hoặc mở rộng thêm các nền kinh tế khác trong khu vực.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc áp dụng phương pháp GMM để ước lượng quy tắc Taylor hướng tới tương lai, cũng như quy trình kinh tế lượng kiểm định và ước lượng mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR/LSTR1/LSTR2/ESTR).
- Các nhà hoạch định chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Nhà nước và các NHTƯ trong khu vực: Là tài liệu tham khảo thực nghiệm về mức độ làm mượt lãi suất, phản ứng của lãi suất trước khoảng cách sản lượng, lạm phát và tỷ giá hối đoái, cùng cơ sở nhận diện tính phi tuyến trong điều hành CSTT.
- Các nhà phân tích kinh tế vĩ mô: Cung cấp khung đánh giá so sánh giữa các quốc gia áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu (Indonesia, Philippines, Thái Lan) và các quốc gia không áp dụng lạm phát mục tiêu (Malaysia, Việt Nam).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án nghiên cứu hành vi điều hành chính sách tiền tệ tại những quốc gia nào và trong giai đoạn nào?
Luận án thực hiện nghiên cứu thực nghiệm tại 5 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực Đông Nam Á gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian theo tháng từ tháng 01/2000 đến tháng 12/2016.
2. Quy tắc Taylor mở rộng với tỷ giá hối đoái có ý nghĩa thống kê tại những quốc gia nào?
Kết quả ước lượng GMM cho thấy biến tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đáng kể đến việc thiết lập lãi suất của NHTƯ tại Malaysia và Philippines. Ngược lại, biến tỷ giá hối đoái không có ý nghĩa thống kê trong hàm phản ứng lãi suất của NHTƯ Indonesia, NHTƯ Thái Lan và NHNN Việt Nam.
3. Tại sao tác giả sử dụng phương pháp GMM để ước lượng quy tắc Taylor tuyến tính?
Theo Clarida, Galí và Gertler (1998, 2000), phương pháp GMM phù hợp để ước tính hàm phản ứng theo quy tắc Taylor hướng tới tương lai vì mô hình này chứa các giá trị kỳ vọng không thể quan sát được tại thời điểm ra quyết định, đồng thời phương pháp này giúp loại bỏ sai lệch đồng thời có thể xảy ra giữa các biến công cụ và biến giải thích.
4. Kết quả kiểm định phi tuyến bằng mô hình STR cho thấy sự khác biệt nào giữa Việt Nam và các nước khác trong mẫu?
Kiểm định tính tuyến tính chỉ ra rằng mô hình phi tuyến không phù hợp để giải thích CSTT tại Việt Nam (CSTT của Việt Nam mang đặc tính tuyến tính). Trong khi đó, CSTT tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines phù hợp với mô hình chuyển tiếp trơn dạng Logistic bậc 1 (LSTR1), và kết quả ước lượng thực nghiệm xác nhận hành vi phản ứng phi tuyến rõ rệt tại Indonesia, Malaysia và Philippines.
5. Vì sao quy tắc Taylor mở rộng với tỷ giá hối đoái được xem là cần thiết đối với các nền kinh tế mới nổi?
Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển là những nền kinh tế mở chịu tác động lớn từ các cú sốc bên ngoài, hiện tượng truyền dẫn tỷ giá tới lạm phát nội địa qua kênh nhập khẩu, và rủi ro bất ổn tài chính do dòng vốn đảo chiều hoặc áp lực nợ định danh bằng ngoại tệ (Ho & Cauley, 2003; Calvo & Reinhart, 2002; Svensson, 2000).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hà Thạch đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quy tắc Taylor tuyến tính, phi tuyến và các hướng mở rộng gắn với ổn định tài chính trong điều hành chính sách tiền tệ. Thông qua phương pháp GMM và mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR) trên bộ dữ liệu tháng giai đoạn 2000–2016, nghiên cứu khẳng định quy tắc Taylor tuyến tính phù hợp với 5 quốc gia Đông Nam Á, đồng thời chỉ ra vai trò của tỷ giá hối đoái tại Malaysia và Philippines. Kết quả nghiên cứu cũng chứng minh sự hiện diện của hành vi điều hành phi tuyến theo mô hình LSTR1 tại Indonesia, Malaysia và Philippines, trong khi điều hành CSTT tại Việt Nam phù hợp với mô hình tuyến tính.