Chương 1 Giới thiệu: như vừa thấy ở phần trên, trong chương này, tác giả đã nêu lên bối cảnh kinh tế quốc gia hiện nay với nhiều thách thức và cơ hội, kết hợp cùng những lập luận để thể hiện tính cấp thiết của việc nghiên cứu ERPT đến lạm phát tại Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng đã đề cập đến các mục tiêu cần đạt được; làm rõ về định hướng, phạm vị nghiên cứu cũng như phương pháp kinh tế lượng cụ thể để tiến hành kiểm định, phân tích vấn đề. Chương 2 Cơ sở lý thuyết về cơ chế truyền dẫn tỷ giá (ERPT) đến lạm phát: tác giả sẽ tiến hành trình bày về những lý thuyết học thuật có liên quan kết hợp với việc lược khảo các công trình nghiên cứu của các học giả đã được cộng đồng kinh tế thế giới công nhận. Qua đó xây dựng nên nền tảng lý luận của bài viết, hỗ trợ giải thích các hiện tượng kinh tế trong thực tiễn, các kết quả nghiên cứu trong bài, định hướng, xác định được cách tiếp cận, phương pháp kinh tế lượng phù hợp với tình hình Việt Nam.
Ngoài ra còn góp phần nhấn mạnh hơn nữa sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu. 6 Chương 3 Thực trạng cơ chế truyền dẫn tỷ giá (ERPT) đến lạm phát tại Việt Nam trong những năm gần đây: tác giả sẽ trích dẫn những con số thực tế liên quan đến tình hình lạm phạt và tỷ giá hối đoái thu thập được. Trên cơ sở đó diễn giải một cách định tính về mối liên hệ nhân quả giữa hai biến số kinh tế vĩ mô này. Và từ đây giúp người đọc rút ra được một số nhận định sơ lược, phần nào cảm nhận về sự tồn tại của ERPT đến lạm phát tại Việt Nam.
Chương 4 Kiểm định và phân tích cơ chế truyền dẫn tỷ giá (ERPT) đến lạm phát tại Việt Nam: trong chương này, tác giả sẽ trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu, mô hình kinh tế lượng được áp dụng trong bài, diễn giải về các biến số tham gia trong quá trình kiểm định, lượng hóa ERPT đến lạm phát Việt Nam cùng các thông tin về nguồn dữ liệu và cách thức xử lý. Kế đến là những phân tích, đánh giá vấn đề từ các kết quả nghiên cứu thu được. Chương 5 Kết luận tổng quát về cơ chế truyền dẫn tỷ giá (ERPT) đến lạm phát tại Việt Nam và một số khuyến nghị: từ những con số có được sau quá trình mô hình hóa ERPT đến lạm phát, tác giả sẽ đưa ra kết luận tổng quát về cơ chế này. Đồng thời nêu lên một số khuyến nghị với kỳ vọng sẽ hữu ích cho công tác quản lý vĩ mô, ổn định giá cả thị trường trong tương lai khi nền kinh tế Việt Nam ngày càng mở cửa, hội nhập mạnh mẽ vào xu thế toàn cầu hóa, gắn kết cùng các quốc gia trên thế giới.
Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu: Với bài nghiên cứu của mình, tác giả kỳ vọng sẽ khiến sự quan tâm của cộng đồng kinh tế quốc gia về vấn đề khoa học này được nâng lên một tầm cao mới. Công trình nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kiến thức kinh tế, toán học từ cơ bản đến nâng cao sẽ đem đến những thông tin về cường độ cũng như tốc độ thực tế của ERPT đến từng loại chỉ số giá, đến lạm phát Việt Nam bằng các chỉ số, hệ số tính toán có được từ mô hình nghiên cứu đã xây dựng. Qua đó sẽ đưa cơ chế truyền dẫn này đến gần với các học giả trong nước hơn, khiến họ có được những nhận định chi tiết, cụ thể cũng như lượng hóa được sự quan trọng, tầm ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đối với 7 nền kinh tế Việt Nam trong thời đại mới khi đã tham gia WTO, mở cửa hội nhập mạnh mẽ trên mọi phương diện. Bên cạnh đó, còn đưa ra một công cụ trợ giúp dự đoán biến động lạm phát hữu ích đối với công tác quản lý vĩ mô.
Ngoài ra, bài viết với cái nhìn bao quát về ERPT đến giá cả trên phạm vi toàn hệ thống kinh tế quốc gia sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế truyền dẫn này ở mức độ khu vực kinh tế, ngành nghề, địa bàn trong nội bộ lãnh thổ sau này nhằm hoàn thiện hơn nữa những hiểu biết về ERPT đến lạm phát Việt Nam từ cấp đơn vị đến cấp tổng thể. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ (ERPT) ĐẾN LẠM PHÁT 2. Giới thiệu về Chương 2: Như đã trình bày ở phần trên, ERPT đến lạm phát là chuyên đề kinh tế mới nổi, mang tính toàn cầu và được quan tâm nhiều trong những năm gần đây. Tuy nhiên trên thực tế, những hiểu biết về vấn đề này đã tồn tại từ rất lâu.
Tỷ giá hối đoái xuất hiện khi đời sống kinh tế xã hội đã phát triển, các hoạt động mua bán không còn bị bó buộc trong lãnh thổ mỗi quốc gia và con người đã biết sử dụng tiền giấy (hay tín tệ) làm trung gian trao đổi hàng hóa, sản phẩm cũng như đo lường giá trị của cải, vật chất. Tỷ giá hối đoái là chất keo kết nối, đưa các nền kinh tế đến gần nhau hơn, góp phần tạo ra sự thuận lợi, dễ dàng trong thương mại quốc tế. Chính từ lúc đó, tỷ giá hối đoái đã trở thành một trong những biến số vĩ mô quan trọng nhất của mọi quốc gia trên con đường phát triển hội nhập, có ảnh hưởng sâu rộng đối với các vấn đề kinh tế trong đó có lạm phát. Những hệ quả vô hình cũng như hữu hình mà tỷ giá tạo ra đã thôi thúc cộng đồng kinh tế thế giới không ngừng tìm hiểu, giải thích để có thể quản lý kinh tế tốt hơn.
Từ đó đã cho ra các học thuyết, lý luận thiết thực cũng như các khám phá mới từ nghiên cứu thực nghiệm, giúp nhân loại hoàn thiện hơn nữa những hiểu biết về các vấn đề xoay quanh tỷ giá và lạm phát. Đồng thời là cơ sở vững chắc cho nghiên cứu về sau. Do vậy trong chương này, tác giả sẽ tiến hành trình bày về những lý thuyết học thuật có liên quan kết hợp với việc lược khảo một số công trình nghiên cứu của các học giả đã được cộng đồng kinh tế thế giới công nhận. Qua đó giúp người đọc có được một vài nhận định sơ lược về ERPT đến lạm phát, xây dựng nên nền tảng lý luận của bài nghiên cứu, hỗ trợ giải thích các hiện tượng kinh tế trong thực tiễn, các kết quả nghiên cứu trong bài viết, định hướng, xác định được hướng tiếp cận, phương pháp kinh tế lượng phù hợp với tình hình Việt Nam.
Ngoài ra còn góp phần nhấn mạnh hơn nữa sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết về ERPT đến lạm phạt: 2.Định nghĩa cơ bản về tỷ giá hối đoái và lạm phát: 2. Tỷ giá hối đoái: “Tỷ giá hối đoái là hệ số quy đổi của một đồng tiền nước này sang đồng tiền khác. Hay cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả đơn vị tiền tệ của một nước được biểu hiện bằng khối lượng các đơn vị tiền tệ nước ngoài.
Lạm phát: “Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt. “…, khi tính mức độ lạm phát, các nhà kinh tế sử dụng chỉ số giá cả. Chỉ số giá cả thường được sử dụng nhất là chỉ số giá tiêu dùng (consumer price index – CPI). Chỉ số này phản ánh mức thay đổi giá cả của một giỏ hàng hóa tiêu dùng so với năm gốc cụ thể.
Thông thường các nhóm chính trong giỏ hàng hóa là thực phẩm, quần áo, nhà cửa, chất đốt, vận tải và y tế. “Ngoài chỉ số tiêu dùng được sử dụng rộng rãi nhất để tính chỉ số lạm phát, người ta còn sử dụng các chỉ số giá khác như chỉ số giá cả sản xuất, chỉ số “giảm lạm phát GDP”. Chỉ số “giảm lạm phát GDP” đo lường sự khác biệt giữa GDP theo giá hiện hành và giá cố định cùng các thành phần của nó.Bộ ba bất khả thi: “Bộ ba bất khả thi là lý thuyết rất phổ biến trong kinh tế được phát triển bởi Robert Mundell và Marcus Fleming vào thập niên 1960. Bộ ba bất khả thi có thể phát biểu như một định đề: một quốc gia không thể đồng thời đạt được tỷ giá cố định, hội nhập tài chính và độc lập tiền tệ.
Diễn đạt định đề này trong sách giáo khoa thông thoáng hơn, theo đó một quốc gia chỉ có thể lựa chọn cùng một lúc đồng thời hai trong ba mục tiêu 10 là độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính. “Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá cố định nhưng phải từ bỏ độc lập tiền tệ. Điều này có nghĩa chính phủ đã mất đi một công cụ để điều chỉnh lãi suất trong nước độc lập với lãi suất nước ngoài. Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi nhưng phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá.
Với lựa chọn này, chính phủ (NHTW) được quyền tự do ấn định lãi suất nhưng đổi lại tỷ giá phải vận hành theo những nguyên tắc của thị trường. Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ được kết hợp bằng cách lựa chọn thị trường vốn đóng. Lựa chọn này có nghĩa chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn. Khi có kiểm soát vốn, mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ.Các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ quốc gia: Trong kỷ nguyên hiện đại ngày nay, Chính sách tiền tệ luôn là “thần dược” hữu hiệu, hỗ trợ tích cực để NHTW và Chính phủ mọi quốc gia giải quyết các vấn đề hóc búa, những câu hỏi lắc léo được đặt ra trong quá trình quản lý vĩ mô.