Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hướng phát triển của đề tài nghiên cứu. 7 Ơ 2: Ơ Ở Ý Ậ VÀ Ê Ớ ÂY Trong tiến trình định giá chứng khoán, ngoài những phân tích liên quan đến công ty, đến cổ phiếu cụ thể, không thể không xét đến yếu tố môi trường kinh tế và ngành.
Sự thành công hay thất bại của mỗi cổ phiếu hay mỗi công ty không ch xem xét trong mối quan hệ độc lập với chính nó mà phải xem xét tổng hòa các yếu tố khác cả bên trong lẫn bên ngoài. Nếu các nhân tố nội sinh làm tăng, giảm giá trị cổ phiếu g n với công ty niêm yết, quyết định sự tồn tại của hàng hóa chứng khoán thông qua việc khai thác các lợi thế liên quan đến nguồn lực, cạnh tranh, thương hiệu,… của chính công ty; thì những nhân tố ngoại sinh như chu kỳ phát triển kinh tế, lạm phát, giảm phát, những nhân tố phi kinh tế khác như thiên tai, chiến tranh, hòa bình… lại có những tác động chi phối trực tiếp đến sự phát triển hay tạo dựng những rủi ro có thể xảy ra đối với chứng khoán. C hai quan điểm tư uy khi định giá chứng khoán thể hiện ở hai phương pháp phổ biến: một là phương pháp top- own, định giá chứng khoán tiếp cận từ trên xuống và hai là phương pháp xác định giá chứng khoán từ ưới lên trên bottom - up. Cả hai phương pháp đều được thực hiện bằng những nguyên t c cơ bản và kỹ thuật khác nhau.
Sự khác biệt của hai phương pháp chính là sự đánh giá về vai trò quan trọng của nền kinh tế và ngành mà công ty đ hoạt động. Phương pháp tiếp cận top-down tin rằng nền kinh tế và ngành c tác động quan trọng đến tổng lợi nhuận của từng chứng khoán đơn lẻ. Ngược lại, phương pháp bottom – up lại cho rằng nhà đầu tư c thể tìm cho mình một chứng khoán tương đối thấp so với giá thị trường và nó sẽ mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư mà không cần quan tâm đến tác động của thị trường hay ngành mà công ty hoạt động. 8 Tùy quan điểm mà nhà đầu tư sẽ lựa chọn cho mình một phương pháp định giá thích hợp.
Tuy nhiên, thực tế đã c nhiều kết quả nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ phương pháp tiếp cận top-down khi các nghiên cứu này tìm ra rằng có tồn tại những mối quan hệ giữa các biến vĩ mô với giá chứng khoán. Xét về mặt lý thuyết, các mối quan hệ này có thể dễ dàng nhận thấy trong các mô hình định giá cổ điển như mô hình chiết khấu cổ tức M, Định giá dòng tiền tự o và Định giá thu nhập thặng ư. ựa trên các mô hình này, giá hiện tại của một cổ phần xấp x bằng hiện giá của tất cả dòng tiền trong tương lai, o đ khi các biến kinh tế vĩ mô tác động đến dòng tiền hay tỷ suất sinh lợi yêu cầu cũng đồng nghĩa tác động đến giá chứng khoán.1 ối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu 2.1 ơ sở lý luận Về mặt lý thuyết, lãi suất và giá cổ phiếu thường biến động ngược chiều nhau: khi lãi suất giảm thì giá chứng khoán tăng và ngược lại, khi lãi suất tăng sẽ tạo nên áp lực giảm giá trên thị trường chứng khoán. Trong quá trình định giá cổ phiếu, tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của nhà đầu tư hay lãi suất chiết khấu sẽ được xác định đầu tiên.
Một lãi suất chiết khấu được lựa chọn phải phản ánh đồng thời giá trị thời gian của tiền tệ và những rủi ro tác động đến chứng khoán đ. ãi suất phi rủi ro có thể được sử dụng để phản ánh giá trị theo thời gian của tiền tệ và một phần bù rủi ro được sử dụng để phản ánh những rủi ro tiềm ẩn trong danh mục thị trường. Một tỷ suất chiết khấu được lựa chọn tùy thuộc vào khẩu vị của mỗi nhà đầu tư. Mô hình CAPM là một trong những phương pháp để xác định tỷ suất sinh lợi yêu cầu của nhà đầu tư: 9 E(Ri) = Rf + βi [E(Rm) –Rf] (1.1) Trong đ : – E(Ri) là suất sinh lợi kỳ vọng của nhà đầu tư đối với một chứng khoán.
– Rf: tỷ suất sinh lợi phi rủi ro. Thường được ước tính bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ. Lãi suất trái phiếu chính phủ được xem là phi rủi ro và là lãi suất chuẩn. – E(Rm): tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục thị trường.
– βi: beta chứng khoán hay độ nhạy cảm của chứng khoán đối với lợi nhuận của danh mục thị trường. Phương trình (1.1) đã được ba nhà kinh tế là Wiliam Sharpe, John Lintner và Jack Tr ynor đưa ra vào giữa thập niên 1960. Phương trình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và suất sinh lợi kỳ vọng và được sử dụng để tính toán suất sinh lợi yêu cầu khi định giá chứng khoán có rủi ro. Một sự thay đổi nhỏ trong lãi suất phi rủi ro, hay lãi suất thị trường sẽ làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán và o đ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Điều này có thể được xem xét qua mô hình chiết khấu dòng tiền cổ tức (DDM). Giả định rằng giá trị của cổ phần thường là hiện giá của các mức cổ tức nhận được trong tương lai, ta c công thức sau: (2.2) Trong đ : – Giá trị hiện tại của cổ phần thường j. 10 – r: Tỷ suất sinh lợi của cổ phần thường j. – DIVt : mức cổ tức chi trả tại thời gian t.
Khi chính phủ điều ch nh lãi suất cơ bản, lãi suất phi rủi ro cũng sẽ thay đổi. Nếu lãi suất cơ bản tăng, lãi suất phi rủi ro cũng tăng. Điều này sẽ dẫn đến kết quả là lãi suất thị trường cũng biến động cùng chiều tương ứng. Nếu mọi thứ không đổi, mức giá mục tiêu của chứng khoán sẽ giảm do tỷ suất sinh lợi yêu cầu tăng.
Và điều ngược lại cũng đúng. Nếu lãi suất cơ bản giảm và mọi thứ giữ nguyên, giá mục tiêu của chứng khoán sẽ tăng bởi vì suất sinh lợi yêu cầu giảm. Ngoài ra, suất sinh lợi sẽ tăng nếu phần bù rủi ro tăng. Thêm vào đ , lãi suất cũng c tác động đến hoạt động của chính doanh nghiệp.
Bất kỳ sự gia tăng trong lãi suất, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, sẽ làm gia tăng chi phí sử dụng vốn. o đ , công ty phải làm việc chăm ch hơn để tạo nên mức lợi nhuận cao hơn trong môi trường lãi suất cao. Nếu không chi phí lãi vay tăng cao sẽ ăn mòn lợi nhuận của công ty. Lợi nhuận thấp, dòng tiền thấp và suất sinh lợi đòi hỏi gia tăng từ các nhà đầu tư, tất cả đều được dịch chuyển vào giá trị của chứng khoán công ty.
Hơn thế nữa, nếu chi phí lãi suất tăng đột biến lên một mức mà các công ty dễ gặp vấn đề trong việc thanh toán nợ vay, sự tồn tại của những công ty như vậy ngày càng trở nên bị đ ọa. Trong trường hợp này, nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một phần bù rủi ro cao hơn. Kết quả là, giá trị sẽ càng giảm xa hơn nữa. Ví dụ như ở thị trường Mỹ, khi cục dữ trữ liên bang Mỹ thông báo tăng lãi suất cơ bản, điều này trên thực tế thường không dẫn tới những thay đổi lớn tức thời trên thị trường chứng khoán.
Thay vào đ , tác động trực tiếp của việc tăng lãi 11 suất cơ bản đ là chi phí mà ngân hàng thương mại phải trả để vay tiền từ ngân hàng trung ương sẽ tăng lên. C một độ trễ nhất định, sau đ những thay đổi trong lãi suất cơ bản sẽ gây tác động tới cá nhân và doanh nghiệp. Tác động gián tiếp đầu tiên từ việc tăng lãi suất cơ bản đ là ngân hàng sẽ tăng lãi suất cho vay áp dụng cho khách hàng cần vốn. Cá nhân bị tác động thông qua lãi suất áp dụng cho việc sử dụng thẻ tín dụng và các khoản nợ vay có thế chấp, đặc biệt những cá nhân sở hữu những khoản vay nợ có lãi suất giao động theo lãi suất thị trường.
Điều này sẽ làm giảm đi số tiền mà một người có thể chi tiêu so với trước đây, bởi vì chi phí tăng cho tất cả hoạt động sử dụng vốn. Người tiêu dùng vẫn phải thanh toán các khoản chi phí sinh hoạt và một khi những chi phí này tăng lên, người tiêu dùng sẽ c khuynh hướng tự điều ch nh giảm các khoản chi tiêu. Điều này sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới lợn nhuận của doanh nghiệp ưới hình thức một sự sụt giảm trong doanh thu bán hàng. Rõ ràng, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp c nguy cơ bị tác động bởi việc nâng lãi suất cơ bản từ sự phản ứng của người tiêu dùng cá nhân.
Hoạt động kinh doanh còn bị tác động trực tiếp theo một hướng khác. Doanh nghiệp cần vốn từ ngân hàng để duy trì hoạt động cũng như mở rộng kinh doanh. Khi chi phí vốn tăng cao, các ự án đầu tư trở nên ít hấp dẫn hơn đối với doanh nghiệp. Trì trệ trong hoạt động kinh doanh sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng của một doanh nghiệp và ảnh hưởng tới lợi nhuận trong cả ng n hạn cũng nhưng ài hạn.
Ảnh hưởng của lãi suất cơ bản lên xu hướng tiêu dùng và hoạt động của doanh nghiệp là khá rõ ràng, tuy nhiên thay đổi trong lãi suất cũng gây ra tác động trên thị trường chứng khoán. Một trong những mô hình đơn giản nhất để định giá một doanh nghiệp đ là Mô hình chiết khấu dòng tiền. Giá trị doanh nghiệp sẽ bằng hiện giá của dòng tiền trong tương lai chiết khấu với một mức lãi suất thích hợp. Giá trị mỗi cổ phần sẽ bằng 12 hiện giá của doanh nghiệp chia cho số cổ phần hiện hữu đang lưu hành trên thị trường.
o không nhà đầu tư nào c thể dự đoán chính xác òng tiền mà một doanh nghiệp c được trong tương lai, o đ chính sự khác biệt trong việc dự đoán òng tiền của các nhà đầu tư là nguyên nhân giải thích tại sao các nhà đầu tư khác nhau mua bán cùng một cổ phiếu tại cùng một thời điểm với các mức giá khác nhau.