CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI. Lý do chọn đề tài: Đối với một quốc gia, hệ thống tài chính luôn giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế với chức năng chủ yếu là phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế. Đó vừa là kênh tiết kiệm cho khu vực hộ gia đình, vừa là kênh đầu tư cho khu vực doanh ghiệp, và cũng là kênh dẫn truyền các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ. Đối với Việt Nam, trong những năm qua chính sách tiền tệ đã trở thành một trong những chính sách trọng tâm để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững với mức lạm phát mục tiêu và lãi suất được xem là công cụ quan trọng giúp thực thi chính sách tiền tệ một cách hiệu quả bằng cách chi phối hoạt động của người đi vay, người gửi tiền và các định chế tài chính.
Có thể nhận thấy rằng hiệu quả của chính sách tiền tệ phụ thuộc vào mức độ và tốc độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ. Trong năm 2013 và những tháng đầu năm 2014, công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước đã bám sát tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, kiên định với các mục tiêu lớn của nền kinh tế, đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả. Bên cạnh những tác động tích cực đến kinh tế vĩ mô đó là ổn định tỷ giá và kiềm chế lạm phát, vẫn có những tác động trái chiều như giảm khả năng tiếp cận vốn tín dụng của nền kinh tế, gia tăng nợ xấu. Để chính sách tiền tệ thực hiện thành công vai trò điều chỉnh nền kinh tế, các nhà hoạch định chính sách phải có những đánh giá chính xác về tính kịp thời và ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
Và lãi suất chính là một công cụ chính sách tiền tệ mạnh và điều hành chính sách lãi suất ở Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn. Không chỉ vậy, lãi suất còn là công cụ giúp chính phủ phát tín hiệu về phương thức điều hành chính sách tiền tệ, qua đó điều tiết thị trường. Các nguyên tắc kinh tế kinh điển luôn phát huy vai trò là kim chỉ nam trong việc điều hành các chính sách của chính phủ. Trong đó, nguyên tắc Taylor sẽ giúp cho một Ngân hàng Trung Ương xác định được lãi suất danh nghĩa trong ngắn hạn khi 3 các điều kiện kinh tế thay đổi, để đạt được hai mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn.
Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy lãi suất bán lẻ điều chỉnh một cách chậm chạp với sự thay đổi trong lãi suất chính sách. Nói cách khác, lãi suất chính sách thay đổi 1% thì lãi suất bán lẻ thay đổi ít hơn 1%. Trong trường hợp này thì cách xác định lãi suất danh nghĩa theo nguyên lý Taylor chuẩn sẽ không đảm bảo cho trạng thái cân bằng xác định được nữa. Khi đó, sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ được cho là không hoàn toàn.
Hiệu lực trong việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước phụ thuộc rất nhiều vào sự truyền dẫn này; vì vậy, nếu mức truyền dẫn là nhỏ và không tương xứng với những thay đổi của Ngân Hàng Nhà Nước thì những tác động điều tiết của nhà điều hành tới thị trường sẽ không còn hiệu quả. Chính vì tầm quan trọng của biến lãi suất đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô, nên đã có khá nhiều bài báo cáo phân tích về chỉ số này cũng như vấn đề truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ và tính minh bạch của chính sách tiền tệ, phạm vi nghiên cứu tập trung ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Cụ thể hơn, các nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu sự thành công của việc áp dụng nguyên tắc Taylor vào chính sách tiền tệ cũng như tiến hành thực nghiệm sự điều chỉnh lãi suất bán lẻ trước sự thay đổi của lãi suất chính sách ở một số khu vực điển hình. Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế những bài nghiên cứu về thực trạng truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ cũng như hiệu quả thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Với ý nghĩa đó, nghiên cứu về truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam, đặc biệt là sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ là một bước đi rất quan trọng trên tiến trình đánh giá hiệu quả của việc điều hành chính sách tiền tệ trong nước, từ đó có những điều chỉnh thích hợp. Mục đích nghiên cứu: Bài nghiên cứu này tiến hành kiểm định hiệu ứng truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ tại Việt Nam, xem xét có hay không sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất và phân tích mức độ truyền dẫn lãi suất để từ đó cung cấp những đánh giá về quy luật và hiệu quả của chính sách tiền tệ mà Ngân hàng Trung Ương đang điều hành nhằm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Mục tiêu nghiên cứu được thực hiện thông qua việc tìm hiểu hai vấn đề chính sau: Thứ nhất, liệu có sự khác biệt trong truyền dẫn các loại lãi suất tại Việt Nam, lãi suất nào hấp thụ sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách nhanh hơn hay nói cách khác hiệu quả của chính sách tiền tệ phản ánh rõ ràng ở lãi suất bán lẻ nào hơn; thứ hai, có hay không sự bất cân xứng trong quá trình truyền dẫn lãi suất. Phương pháp nghiên cứu: Trong phạm vi bài này, tác giả tiến hành xây dựng các phương trình xác định sự cân bằng với kì vọng hợp lý dựa trên các mô hình và công thức phổ biến như: mô hình chu kỳ kinh doanh chuẩn theo quan điểm kinh tế học Keynes mới, đường cong Phillips.
Tiến hành mô tả thực nghiệm hiệu ứng truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam, dựa trên đặc tính dữ liệu, sử dụng mô hình hồi quy phân phối trễ (Autoregressive Distributed Lag- ARDL) cùng với các kiểm định cơ bản như kiểm định nghiệm đơn vị, tự tương quan, đồng liên kết, kiểm định sự phù hợp của mô hình để phân tích tác động dẫn truyền từ lãi suất chính sách (đại diện bởi lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn) đến lãi suất bán lẻ (đại diện bởi lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay và lãi suất trái phiếu chính phủ), kiểm định sự bất cân xứng trong quá trình truyền dẫn. Kết cấu của đề tài: Với mục tiêu và hướng nghiên cứu như trên, bài luận văn được bố cục như sau: chương hai trình bày khung lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm, khung lý thuyết được nhắc đến trong bài bao gồm nguyên tắc Taylor, hiệu ứng truyền dẫn lãi suất, mô hình giá cứng nhắc, các bằng chứng thực nghiệm được đề cập đến trong bài là các nghiên cứu trước đây về truyền dẫn lãi suất cũng như ý nghĩa thực tiễn 5 của nguyên tắc Taylor trong chính sách tiền tệ, những điều kiện cho trạng thái cân bằng xác định dưới những tình huống chắc chắn. Phương pháp nghiên cứu và các bước xây dựng mô hình được mô tả trong phần 3 của bài. Tiếp theo, phần 4 trình bày kết quả các kiểm định, nghiên cứu thực nghiệm về hiện tượng truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ ở Việt Nam, bao gồm kết quả của các kiểm định cơ bản, kết quả về truyền dẫn và bất cân xứng từ mô hình hồi quy ARDL.
Cuối cùng, phần 5, từ kết quả định lượng về cơ cấu, mức độ dẫn truyền từ lãi suất chính sách sang lãi suất bán lẻ ở Việt Nam để đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu cùng một số kiến nghị nhằm gia tăng sự truyền dẫn lãi suất hay nói cách khác là gia tăng hiệu quả ổn định kinh tế vĩ mô của công cụ điều hành chính sách tệ. 6 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM. Nguyên tắc Taylor Năm 1993, nhà nghiên cứu John B.Taylor, giáo sư đại học Stanford (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đối với chính sách lãi suất của Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ- FED trong vòng một thập niên trong giai đoạn 1980-1990 và nhận ra rằng biến động lãi suất điều hành của FED tuân thủ theo một nguyên tắc nhất định trong mối tương quan với lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Từ quan sát trên, Taylor đã mở rộng nghiên cứu và khái quát hóa thành một nguyên tắc điều hành lãi suất của NHTW gọi là Nguyên tắc Taylor (the Taylor Rule).
Theo Nguyên tắc Taylor, lãi suất điều hành cần điều chỉnh phù hợp với thay đổi của chênh lệch sản lượng (output gap - chênh lệch giữa GDP tiềm năng và GDP thực tế trong một thời kỳ) và chênh lệch lạm phát (chênh lệch giữa mức lạm phát thực tế và mức lạm phát mục tiêu) trong nền kinh tế. Nguyên tắc Taylor được biểu hiện bằng hàm phản ứng chính sách sau: 𝑖𝑡 = 𝜋𝑡 + 𝑟𝑡∗ + 𝑎𝜋 (𝜋𝑡 − 𝜋𝑡∗ ) + 𝑎𝑦 (𝑦𝑡 − 𝑦̅𝑡 ) Trong đó: 𝑖𝑡 : là lãi suất điều hành của NHTW theo nguyên tắc Taylor; 𝜋𝑡 : là tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số GDP deflator; 𝜋𝑡∗ : là tỷ lệ lạm phát mục tiêu; 𝑟𝑡∗ ∶ lãi suất thực cân bằng giả định; 𝑎𝜋 𝑣à 𝑎𝑦 : là các tham số phản ứng chính sách hay trọng số đối với tăng trưởng và lạm phát. 𝑦𝑡 : tăng trưởng GDP. 7 𝑦̅𝑡 : tăng trưởng GDP tiềm năng.
Quy tắc Taylor quy định ngân hàng trung ương nên thay đổi lãi suất danh nghĩa ra sao để đáp ứng các thay đổi của lạm phát, GDP hoặc các điều kiện kinh tế khác. Theo đó, quy tắc nói rằng nếu lạm phát tăng thêm 1% thì ngân hàng trung ương nên tăng lãi suất danh nghĩa thêm hơn 1%. Theo Taylor, lãi suất điều hành của FED biến động cùng xu hướng và bám sát với lãi suất khuyến nghị theo nguyên tắc Taylor. Nguyên tắc Taylor được cả giới nghiên cứu và các Ngân Hàng Trung Ương quan tâm và dần trở thành chỉ báo được quan tâm đối với việc phân tích và điều hành chính sách tiền tệ.
Có thể nhận thấy rằng ưu điểm nổi bật của nguyên tắc Taylor là tính đơn giản, dễ tính toán, do đó giúp tăng cường tính minh bạch trong chính sách tiền tệ tuân thủ nguyên tắc này. Nguyên tắc Taylor cho phép điều chỉnh linh hoạt trọng số của sản lượng và lạm phát phù hợp với mục tiêu trọng tâm của Ngân hàng Trung Ương trong việc quyết định lãi suất điều hành.