chương 1 tác giả đã giới thiệu tổng quan về luận văn, nêu mục tiêu của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Cũng như trình bày sơ lược phương pháp nghiên cứu sẽ thực hiện và nội dung chính của luận văn. Tiếp theo tác giả sơ lược nội dung nghiên cứu và đóng góp của đề tài, khe hở của đề tài nghiên cứu và cuối cùng tác giả trình bày tiến bố cục của luận văn. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả sẽ nêu cơ sở lý luận, nền tảng lý thuyết về thu nhập lãi cận biên.
Đồng thời nêu lên mô hình xác định thu nhập lãi cận biên được các tác giả trước đây đề xuất đồng thời lược khảo các nghiên cứu trước đây và dựa vào các kết quả thực nghiệm để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên và xây dựng mô hình nghiên cứu. Tổng quan về thu nhập lãi cận biên Rousseas (1985) đưa ra mô hình định giá dựa trên giả thuyết chi phí vốn là biến ngoại sinh. Trong mô hình này các ngân hàng được xem là người chấp nhận giá do có mức độ canh tranh rất cao giữa các ngân hàng để có được nguồn vốn. Tuy nhiên Ho & Saunders (1981) cho rằng điều này không chính xác trong thị trường bán lẻ.
Mô hình của Ho & Saunders (1981) dự đoán rằng cả lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay là các biến nội sinh được quyết định bởi nhà quản trị NHTM trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Chính xác hơn, Ho & Saunders (1981) lập luận rằng biến đổi của lãi suất bán lẻ một phần phụ thuộc vào chi phí vốn vay và một phần khác phụ thuộc vào tỷ lệ lãi suất biên. Tỷ lệ biên như một tấm đệm giúp ngân hàng ứng phó với các rủi ro. Nghĩa là lãi suất huy động (rD) sẽ bằng lãi suất thị trường (r) trừ một khoảng lãi suất biên (a), trong khi lãi suất cho vay (rL) sẽ bằng lãi suất thị trường cộng với một khoảng lãi suất biên (b).
Mô hình này cũng được các nhà nghiên cứu về sau đồng thuận (Saunders & Schumacher, 2000; Maudos & Fernandez de Guevara, 2004; Maudos & Solísa, 2009). Như vậy ngoài lãi suất thị trường, tỷ lệ biên cũng là cơ sở để ngân hàng định giá lãi suất bán lẻ. Để tối đa hóa lợi ích, các ngân hàng không thiết lập lãi suất huy động và lãi suất cho vay một cách riêng biệt mà luôn có quan sát và cân đối trước khi quyết định. Giải bài toán tối ưu hóa đồng thời tham số a và b trong mô hình sẽ giúp nhà nghiên cứu tìm thấy các yếu tố quyết định lãi suất bán lẻ ngoài yếu tố lãi suất thị trường.
Ho & Saunders (1981) đã sử dụng bài toán lãi cận biên (rL-rD) để tìm ra các yếu tố quyết định tham số a và b trong mô hình định giá. Nói cách khác, lãi cận biên 8 chính là một phần trong câu chuyện định giá của nhà quản trị ngân hàng. Trong nghiên cứu thực nghiệm, lãi cận biên được đo bằng chênh lệch giữa tổng doanh thu từ hoạt động cho vay với tổng chi phí nguồn vốn huy động so với tổng tài sản sinh lợi. Từ mô hình của Ho & Saunders (1981), tác giả nhận thấy phân tích truyền dẫn lãi suất bán lẻ cần quan tâm đến lãi cận biên nhất là trong trường hợp xuất hiện truyền dẫn không hoàn toàn.
Bởi vì điều này có thể ẩn chứa thông tin truyền dẫn lãi suất còn phụ thuộc rất lớn vào hành vi của nhà quản trị khi xác định mức lãi suất huy động và cho vay. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây hoặc không xem xét hoặc chỉ xem các yếu tố quyết định lãi suất cho vay một cách riêng lẻ (Aysun & Hepp 2016; Kitamura và các tác giả 2015,…). Đây là khoảng trống nghiên cứu cần được bổ sung. Ở Việt Nam, mối liên hệ giữa các loại lãi suất thị trường và lãi suất chính thức của NHNN (lãi suất tái cấp vốn lãi suất chiết khấu, lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc.) còn lỏng lẻo, vai trò điều tiết thị trường của công cụ lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu và thị trường mở còn hạn chế.
Trong tình huống này, vận dụng nguyên tắc xác định lãi cận biên để giải thích hành vi xác định lãi suất bán lẻ của NHTM rất phù hợp. Chẳng hạn, NHNN mong muốn giảm lãi suất bán lẻ ngay khi lãi suất tái chiết khấu giảm. Tuy nhiên, các NHTM chỉ có thể điều chỉnh giảm lãi suất cho vay tương ứng với mức giảm của lãi suất chính sách khi lãi cận biên kỳ vọng của ngân hàng ít bị ảnh hưởng. Bởi vì, nếu các yếu tố khác không đổi lãi suất cho vay giảm đồng nghĩa với lãi cận biên giảm.
Ngay cả trong trường hợp lãi suất huy động có giảm nhiều đi nữa nhưng các yếu tố khác của ngân hàng như chi phí hoạt động, chi phí cơ hội, các khoản thanh toán ngoài lãi… ở mức cao vẫn có thể cản trở ngân hàng giảm lãi suất cho vay. Hơn nữa, lãi cận biên là yếu tố đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng và nhà quản trị NHTM toàn quyền quyết định mức này sao cho có lợi nhất. Mặt khác, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lãi cận biên cao thường có ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế. Lãi cận biên cao thường đi liền với kém hiệu quả của hệ thống tài chính và dẫn đến biến dạng tiết kiệm và đầu tư (López-Espinosa và 9 các tác giả 2011).
Việc giảm tiết kiệm và đầu tư làm chậm tốc độ tăng trưởng và tốc độ tạo việc làm. Lãi cận biên quá cao không những không khuyến khích nguồn tiết kiệm (do có tỷ suất sinh lợi thấp) mà còn hạn chế mở rộng tín dụng do lãi suất cho vay cao. Đối với các quốc gia mới nổi, đây là rủi ro rất đáng kể bởi vì hệ thống tài chính và thị trường vốn của những quốc gia này chưa phát triển hoàn hảo và nền kinh tế lại phụ thuộc nhiều vào nguồn tín dụng ngân hàng. Lãi cận biên cao cũng là yếu tố làm cho chính sách tiền tệ kém hiệu quả (Sander & Kleimeier 2004) do các mức lãi suất chính sách không được truyền dẫn hoàn toàn vào thị trường.
Như vậy bên cạnh truyền tải thông tin quan trọng về hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng, lãi cận biên còn là yếu tố phản ánh hiệu quả chính sách tiền tệ. Hành vi thiết lập lãi cận biên của NHTM phụ thuộc vào các yếu tố quyết định lãi cận biên. Mô hình lý thuyết chỉ ra lãi cận biên có quan hệ tuyến tính với yếu tố có thể đo lường được. Điều này ngụ ý rằng, các yếu tố chi phối lãi cận biên sẽ giải thích phần nào lý do lãi suất bán lẻ thay đổi không tương xứng với lãi suất chính sách.
Lý thuyết xác định thu nhập lãi cận biên Bắt đầu cho các nghiên cứu về lãi cận biên là mô hình phân tích các yếu tố quyết định mức lãi suất biên của ngân hàng trong nghiên cứu của Ho & Saunders (1981). Hai tác giả này đã nghiên cứu thực nghiệm mô hình ngân hàng tại Mỹ. Trong mô hình này, các ngân hàng được giả định chỉ có hoạt động cho vay và huy động vốn. Mô hình được thiết lập như sau: 𝛼 1 𝑆= + 𝑅𝜎𝐼2 𝑄 (2.1) 𝛽 2 Trong đó: - S: lãi cận biên là chênh lệch giữa thu nhập từ lãi vay và chi phí huy động vốn; - α/β là tỷ số đo lường sức mạnh thị trường; - R là chỉ tiêu đo lường độ ngại rủi ro của ngân hàng; - Q đại diện cho quy mô giao dịch; - σI2: là giá trị bất ổn lãi suất thị trường.
10 Maudos & Fernández de Guevara (2004) đã mở rộng mô hình xác định lãi suất biên. Trong nghiên cứu của mình, Maudos & Fernández de Guevara (2004) đã đưa thêm biến chi phí hoạt động vào mô hình lý thuyết. Mô hình lý thuyết cho rằng ngân hàng kinh doanh theo quan điểm ngại rủi ro trên thị trường tín dụng. Ngân hàng hoạt động như một trung gian giữa người có nhu cầu cung ứng vốn và người có nhu cầu sử dụng vốn.
Trong mỗi thời kỳ xác định lãi suất, ngân hàng xác định mức lãi suất vào thời điểm bắt đầu của thời kỳ đó, trước khi có bất cứ khoản tiền gửi hoặc cho vay nào, và giữ nguyên lãi suất như vậy đến cuối thời kỳ. Các ngân hàng là những chủ thể ngại rủi ro. Họ phải thương lượng với người có nhu cầu sử dụng vốn về mức lãi suất cho vay, đồng thời phải đề nghị mức lãi suất đối với người có nhu cầu gửi tiền. Trong khi các hoạt động này diễn ra bất cân xứng về thời gian, ngân hàng phải thiết lập mức lãi suất cho vay (rL) và lãi suất tiền gửi (rD) tối ưu sao cho tối thiểu hóa rủi ro do bất ổn lãi suất trên thị trường tiền tệ.
Khi bất ổn xảy ra, nhu cầu vay tăng lên quá mức hoặc không đủ nguồn cung tiền gửi, ngân hàng cũng phải xác định mức lãi suất sao cho có thể dung hòa được những bất ổn này. Vì những lý do như vậy nên các ngân hàng xác định các mức lãi suất của họ như là một cận biên với lãi suất trên thị trường tiền tệ (r). Điều này có nghĩa là: rD = r – a và rL = r + b (2.2) Trong đó a, b là mức cận biên tương ứng với lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi theo lãi suất trên thị trường tiền tệ, (rL): lãi suất cho vay; và (rD): lãi suất tiền gửi Khoản chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi s hay lãi cận biên được tính như sau: s = rL – rD = a + b (2.3) Mô hình này được hiểu một cách trực quan như sau: giả định một khoản tiền gửi mới của ngân hàng phát sinh trước khi có nhu cầu khoản vay. Ngân hàng sẽ đầu tư khoản tiền nhàn rỗi tạm thời này vào thị trường tiền tệ với mức lãi suất r.
Nếu lãi suất thị trường cuối kỳ giảm ngân hàng sẽ có rủi ro đối với khoản tái đầu tư. Tương tự, nếu có khoản vay phát sinh trước khi có khoản tiền gửi mới vào ngân hàng, lúc đó ngân hàng sẽ sử dụng nguồn vốn từ thị trường tiền tệ để đáp ứng khoản vay. 11 Trường hợp này ngân hàng đối mặt với rủi ro của khoản tái tài trợ nếu lãi suất thị trường tăng. Ngoài ra, việc thu hồi vốn vay là không chắc chắn bởi vì có xác suất một vài chủ thể vay tiền sẽ không trả được nợ có nghĩa là gặp rủi ro tín dụng.