lời mở đầu luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1.Tổng quan về lý thuyết cung và cầu tiền.Thực trạng các nhân tố ảnh hƣởng đến cầu tiền của Việt Nam.Phân tích kết quả nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VỀ CUNGVÀ CẦU TIỀN TỆ Cung và Cầu tiền đóng vai trò quan trọng trong hoạch định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là trong việc đƣa ra chính sách tiền tệ. Chƣơng này mô tả những lý thuyết về cung và cầu tiền qua thời gian đã tiến triển nhƣ thế nào và tóm lƣợc các nghiên cứu thực nghiệm về cầu tiền trên thế giới và Việt Nam.
TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CUNG VÀ CẦU TIỀN TỆ 1. Tổng quan về lý thuyết cung tiền 1. Khái niệm “Cung tiền là khối lƣợng tiền cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo các nhu cầu sản xuất, lƣu thông hàng hóa cũng nhƣ các nhu cầu chi tiêu trao đổi khác của nền kinh tế xã hội” (Nguyễn Đăng Dờn, 2009, trang 28). Nhƣ vậy, mức cung tiền tệ là toàn thể khối tiền tệ đã đƣợc cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định.
Mức cung tiền tệ tạo thành khối tiền tệ bao gồm các thành phần sau: Tiền giao dịch (M1): Tiền giao dịch là khối tiền trực tiếp làm phƣơng tiện lƣu thông và phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế. Vì vậy, nó cho phép đáp ứng ngay các nhu cầu thanh toán của các cá nhân, tổ chức.Tiền giao dịch (M1) bao gồm: + Tiền mặt đang lưu hành (C-cash): Tiền mặt lƣu hành, còn gọi là tiền mặt trong lƣu thông bao gồm ba bộ phận: • Tiền mặt trong tay nhân dân. • Tiền mặt trong quỹ các đơn vị, tổ chức kinh tế. • Tiền mặt trong quỹ nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Ba bộ phận tiền mặt này còn đƣợc gọi là cơ số tiền tệ gây áp lực trực tiếp và mạnh mẽ đối với lực lƣợng hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế vì vậy nó là bộ phận cần đƣợc theo dõi và kiểm soát chặt chẽ. Tiền mặt lƣu hành chính là lƣợng tiền giấy do 6 ngân hàng Trung ƣơng phát hành và đang nằm trong lƣu thông. Do đó nó còn đƣợc gọi là tiền Trung Ƣơng. + Tiền gửi không kỳ hạn (Deposit) Tiền gửi không kỳ hạn đƣợc xem là tiền giao dịch, bởi vì ngƣời gửi tiền (chủ tài khoản) bất kỳ lúc nào cũng có thể sử dụng tiền trên tài khoản này để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ…Tuy nhiên, tính kịp thời và ngay lập tức trong chi trả của tiền gửi không kỳ hạn không thể ngang bằng với tiền mặt đƣợc.
Tuy có sự khác nhau giữa tiền mặt và tiền gửi không kỳ hạn nhƣng nó đều có năng lực giải tỏa rất nhanh chóng đáp ứng kịp thời các nhu cầu giao dịch của ngƣời sở hữu chúng. Và vì vậy ngƣời ta gọi nó là tiền giao dịch. Nó còn đƣợc gọi là tiền mạnh. Khối tiền giao dịch mở rộng (M2): Bên cạnh khối tiền giao dịch (M1) còn có những khoản khác gọi là “chuẩn tệ” nhƣ tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi định kỳ, trái phiếu kho bạc ngắn hạn, các hối phiếu, kỳ phiếu ngắn hạn… Những tài sản này không sử dụng ngay lập tức nhƣ tiền mặt, tiền gửi hoạt kỳ nhƣng sau một thời gian, nó có thể đƣợc sử dụng.
Do vậy nó phải đƣợc cấu tạo vào trong khối tiền tệ của nền kinh tế. Khối tiền rộng vì vậy trở thành đối tƣợng quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia. Tùy mức độ “giải tỏa” của các loại “chuẩn tệ” khối tiền cũng đƣợc phân thành các cấp độ khác nhau. M2=M1+Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi định kỳ.
Khối tiền (moneytary block) – Ký hiệu là M M=M2+ tiền gửi khác Khối tiền của nền kinh tế với các thành phần của nó, biến động tùy theo tình hình kinh tế tài chính và sự hoạt động hữu hiệu của hệ thống ngân hàng. Các thành viên tham gia quá trình cung ứng tiền tệ Ngân hàng trung ương: cơ quan chính phủ có chức năng theo dõi bao quát hệ thống hoạt động ngân hàng và có trách nhiệm thực hiện việc chỉ đạo chính sách 7 tiền tệ. Ở Mỹ, đó là hệ thống Dự trữ Liên bang. Ở Việt Nam hiện nay là Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam.
Các ngân hàng (các tổ chức nhận tiền gửi): Những trung gian tài chính, họ nhận tiền gửi từ các cá nhân và các tổ chức và thực hiện cho vay – các ngân hàng thƣơng mại, các công ty tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm tƣơng trợ và các liên hiệp tín dụng. Người gửi tiền: các cá nhân và các tổ chức nắm giữ tiền gửi ở các ngân hàng. Người đi vay: các cá nhân, tổ chức vay tiền từ các tổ chức nhận tiền gửi hoặc từ các tổ chức phát hành các trái khoán, các trái khoán đó đƣợc các tổ chức nhận gửi mua. Trong bốn thành viên trên, thì Ngân hàng trung ƣơng đóng vai trò quan trọng nhất.
Ngân hàng trung ƣơng điều hành chính sách tiền tệ liên quan đến các hoạt động tác động làm thay đổi bảng cân đối tài sản của nó. Tổng quan về lý thuyết cầu tiền 1. Lý thuyết số lƣợng tiền Lý thuyết về cầu tiền đƣợc các nhà kinh tế học cổ điển bắt đầu nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.Thực tế các lý thuyết cổ điển không đề cập trực tiếp đến cầu tiền mà nó giải quyết vấn đề giá trị danh nghĩa của tổng thu nhập đƣợc xác định nhƣ thế nào. Do đó, nó cho biết bao nhiêu tiền đƣợc nắm giữ đối với thu nhập đã cho nên nó cũng là học thuyết về cầu tiền.
Cách tiếp cận theo lý thuyết số lƣợng tiền đƣợc trình bày rõ nhất trong tác phẩm “Sức mua của tiền tệ” của nhà kinh tế học ngƣời Mỹ Fisher (1911). Fisher xem xét mối quan hệ giữa tổng lƣợng tiền tệ M với tổng chi tiêu để mua hàng hóa và dịch vụ đƣợc sản xuất ra trong nền kinh tế PY.Trong đó P là mức giá cả và Y là tổng sản phẩm. Tổng chi tiêu PY đƣợc coi nhƣ là tổng thu nhập danh nghĩa của nền kinh tế hoặc nhƣ tổng sản phẩm quốc gia danh nghĩa GNP. Fisher tìm thấy mối quan hệ giữa M và PY và thể hiện đó qua đại lƣợng V mà Fisher gọi là “tốc độ chu chuyển của tiền” tức là số lần trung bình trong một năm mà một đồng đô la đƣợc dùng để mua tổng số hàng hóa và dịch vụ đƣợc sản xuất trong nền kinh tế.1) M * Phƣơng trình trao đổi của Fisher: Nhân hai vế của phƣơng trình (1.1) cho M ta đƣợc phƣơng trình trao đổi MV=PY(1.2) Phƣơng trình trao đổi cho biết lƣợng tiền nhân với số lần mà đồng tiền đó đƣợc chi ra trong một năm đã cho phải bằng thu nhập danh nghĩa của năm đó.
Để tính đƣợc số tiền đƣợc nắm giữa là bao nhiêu ta chia hai vế của phƣơng trình trao đổi (1.2) cho V, ta đƣợc 1 M x PY V Khi thị trƣờng tiền tệ cân bằng, số lƣợng tiền mà ngƣời dân nắm giữ (M) bằng số lƣợng tiền đƣợc yêu cầu (Md), đặt k=1/V (k là hằng số vì V là hằng số) ta viết lại phƣơng trình trên nhƣ sau: Md k x PY (1.3) Phƣơng trình (1.3) cho biết số lƣợng tiền Md mà ngƣời dân yêu cầu đƣợc xác định thông qua các giao dịch sinh ra bởi một mức cố định của thu nhập danh nghĩa (PY). Nhƣ vậy, lý thuyết số lƣợng tiền tệ của Fisher nêu lên rằng tiền tệ thuần túy là một hàm số của thu nhập và lãi suất không có ảnh hƣởng đến cầu về tiền tệ. * Cách tiếp cận của Cambridge Trên cơ sở ban đầu của lý thuyết số lƣợng tiền của Fisher (từ phƣơng trình (1.1)), một nhóm nhà kinh tế học cổ điển tại đại học Cambridge, Anh, bao gồm Alfred Marshall và A.Pigou tiếp tục nghiên cứu về vấn đề đó. Mặc dù phân tích của họ đƣa đến một phƣơng trình giống y nhƣ phƣơng trình cầu tiền tệ của Fisher (phƣơng trình 1.3), nhƣng cách tiếp cận của họ khác với cách tiếp cận của Fisher.
Thay vì nghiên cứu cầu tiền tệ bằng cách chỉ nhìn vào mức giao dịch và các tổ chức ảnh hƣởng đến cách dân chúng tiến hành các giao dịch coi đó là những yếu tố quyết định chủ chốt, những nhà kinh tế học Cambridge đặt câu hỏi xem các cá nhân sẽ muốn giữ bao nhiêu tiền trong một tình huống đƣợc giả định. Trong mô hình 9 Cambridge, các cá nhân có một sự linh hoạt trong việc quyết định nắm giữ tiền và hoàn toàn không phụ thuộc vào những hạn chế và thể chế chẳng hạn nhƣ họ có thể đƣợc sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng hay không.Vì vậy mà cách tiếp cận của Cambridge không xóa bỏ ảnh hƣởng của lãi suất đối với cầu tiền tệ. Những nhà kinh tế học cổ điển Cambridge thừa nhận rằng tiền có hai thuộc tính thúc đẩy ngƣời ta muốn giữ tiền: Thứ nhất, tiền hoạt động nhƣ một phƣơng tiện trao đổi mà ngƣời ta cần dùng để tiến hành các giao dịch. Các nhà kinh tế học Cambridge đồng ý với Fisher rằng cầu tiền tệ phải có liên quan đến (nhƣng không đƣợc quyết định bởi) mức các giao dịch và rằng sẽ có một yếu tố cấu thành giao dịch của cầu tiền tệ tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa.
Thứ hai, tiền hoạt động nhƣ một phƣơng tiện cất giữ của cải. Thuộc tính này của tiền tệ đƣa các nhà kinh tế học Cambridge đến việc nêu lên rằng mức của cải của con ngƣời cũng ảnh hƣởng đến cầu tiền tệ. Do của cải của một cá nhân tăng trƣởng, nên anh ta cần cất giữ của cải bằng cách nắm giữ một lƣợng lớn hơn các tài sản mà một trong các tài sản đó là tiền. Bởi vì những nhà kinh tế học Cambridge tin rằng của cải theo số danh nghĩa là tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa, cho nên họ cũng tin rằng bộ phận của cải cấu thành của cầu tiền tệ tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa.
Các nhà kinh tế học Cambridge kết luận rằng cầu tiền tệ phải tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa và biểu thị hàm số cầu tiền tệ nhƣ sau Md k x PY (1.4) Trong đó k là hằng số của tính tỷ lệ. Vì phƣơng trình này giống y nhƣ phƣơng trình (1.3) về cầu tiền của Fisher, cho nên cũng giống nhƣ Fisher, nhóm Cambridge đồng ý rằng lãi suất không đóng vai trò gì trong cầu tiền tệ trong thời gian ngắn.