CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1.1 Tổng quan về lãi suất 1.1 Khái niệm và một số lý thuyết về lãi suất 1.Mác Lý thuyết của Mác về nguồn gốc, bản chất lãi suất trong nền kinh tế hàng hóa Tư Bản Chủ Nghĩa (TBCN): Qua quá trình nghiên cứu bản chất của TBCN, Mác đã vạch ra rằng: quy luật giá trị thặng dư tức là giá trị lao động không của công nhân làm thuê tạo ra là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc của mọi lãi suất đều xuất phát từ giá trị thặng dư. Theo Mác, khi xã hội phát triển thì tư bản tài sản tách rời tư bản chức năng, tức là quyền sở hửu tư bản tách rời quyền sử dụng tư bản, nhưng mục đích của tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư thì không thay đổi. Vì vậy, trong xã hội phát sinh quan hệ cho vay và đi vay, đã là tư bản thì sau một thời gian giao cho nhà tư bản đi vay sử dụng, tư bản cho vay được hoàn trả lại cho chủ sở hữu nó kèm theo một giá trị tăng thêm gọi là lợi tức. Về thực chất lợi tức chỉ là một bộ phận của giá trị thặng dư mà nhà tư bản đi vay phải cho nhà tư bản cho vay.
Trên thực tế nó là một bộ phận của lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản công thương nghiệp đi vay phải chia cho các nhà tư bản cho vay. Do đó nó là biểu hiện quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa được mở rộng trong lĩnh vực phân phối và giới hạn tối đa của lợi tức là lợi nhuận bình quân, còn giới hạn tối thiểu thì không có nhưng luôn lớn hơn không. Vì vậy sau khi phân tích công thức chung của tư bản và hình thái vận động đầy đủ của tư bản Mác đã kết luận: “Lãi suất là phần giá trị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê bị tư bản – chủ ngân hàng chiếm đoạt”. 123doc 5 Lý thuyết của Mác về nguồn gốc, bản chất lãi suất trong nền kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN): Các nhà kinh tế học Mác xít nhìn nhận trong nền kinh tế XHCN cùng với tín dụng, sự tồn tại của lãi suất và tác động của nó do mục đích khác quyết định, đó là mục đích thỏa mãn đầy đủ nhất các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội.
Lãi suất không chỉ là động lực tín dụng mà tác dụng của nó đối với nhà kinh tế phải bám sát các mục tiêu kinh tế. Trong XHCN không còn phạm trù tư bản và chế độ người bóc lột người, song điều đó không có nghĩa là ta không thể xác định bản chất của lãi suất. Bản chất của lãi suất trong xã hội chủ nghĩa là “giá cả của vốn cho vay mà nhà nước sử dụng với tư cách là công cụ điều hòa hoạt động hạch toán kinh tế”. Qua những lý luận trên ta thấy các nhà kinh tế học Mác xít đã chỉ rõ nguồn gốc và bản chất của lãi suất.
Tuy nhiên quan điểm của họ không thể hiện được vai trò của lãi suất và các biến số kinh tế vĩ mô khác. Ngày nay, trước sự đổ vỡ của hệ thống XHCN, cùng với chính sách làm giàu chính đáng, chính sách thu hút đầu tư lâu dài. đã không phù hợp với các chính sách trước đây vì nó tôn trọng quyền lợi người đầu tư, người có vốn, thừa nhận thu nhập từ tư bản.KEYNES (1883 – 1964) là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh, ông cho rằng lãi suất không phải là số tiền trả cho công việc tiết kiệm hay nhịn chi tiêu, vì khi tích trữ tiền mặt người ta không nhận được một khoản trả công nào, ngay cả trường hợp tích trữ rất nhiều trong một khoản thời gian nhất định nào đó. Vì vậy, lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho “sở thích chi tiêu tư bản”.
Lãi suất do đó còn được gọi là sự trả công cho sự chia lìa với của cải, tiền tệ. Sự phân tích bản chất lãi suất như trên cho thấy nếu lãi suất thấp thì tổng số nhu cầu về tiền mặt của dân chúng sẽ vượt quá số cung tiền và nếu lãi suất cao thì sẽ có một lượng tiền mặt dư thừa khi đó không ai muốn giữ tiền. 123doc 6 Vào những năm 30 của thế kỷ 20, khủng hoàng kinh tế, thất nghiệp diễn ra thường xuyên và nghiêm trọng tại các nền kinh tế Tây Âu và Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng kinh tế Thế Giới 1929-1933 cho thấy học thuyết “tự điều tiết” của trường phái cổ điển thiếu xác đáng.
Lý thuyết “bàn tay vô hình” của A.Smith, học thuyết “cân bằng tổng quát” của L.Walras cũng không phát huy được hiệu quả và bảo đảm nền kinh tế phát triển khỏe mạnh. Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất đòi hỏi Nhà nước can thiệp nhiều hơn vào nền kinh tế. Đây chính là các cơ sở hình thành và phát triển lý thuyết kinh tế của John Maynard Keynes. John Maynard Keynes (1884- 1946) là nhà kinh tế học người Anh, giáo sư Đại học Tổng Hợp Cambridge, chuyên gia trong lĩnh vực tài chính tín dụng và lưu thông tiền tê, cố vấn ngân khố quốc gia, thành viên Ban giám đốc ngân hàng Anh, chủ bút một tạp chí kinh tế.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của J.M Keynes là “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (1936). Theo đó, Ông cho rằng lãi suất có ý nghĩa rất lớn đối với đầu tư, do đó tác động đến công ăn việc làm và thu nhập trong xã hội. Về bản chất, Keynes cho rằng lãi suất là số tiền trả cho việc không sử dụng tiền mặt trong một khoản thời gian nhất định. Có hai nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất: Thứ nhất, khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông.
Nếu khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông càng tăng thì lãi suất càng giảm và ngược lại. Đây là một công cụ quan trọng để đưa ra chính sách điều tiết kinh tế của Nhà Nước. Để kích thích đầu tư cần hạ lãi suất, muốn hạ lãi suất thì phải tăng số lượng tiền trong lưu thông. Thực ra, Keynes phân tích thị trường tiền tệ ở đó lãi suất là giá cả.
Khi cung tiền tệ gặp cầu tiền tệ thì hình thành nên lãi suất thị trường. Cung tiền tệ phụ thuộc vào chính sách cung tiền của NHTW. Nếu lượng cung tiền tăng mà cầu tiền không thay đổi hoặc tăng theo không kịp tốc độ tăng của cung tiền thì lãi suất thị trường sẽ giảm xuống. Thứ hai, sự ưa thích tiền mặt.
123doc 7 Đây chính là mức cầu tiền tiền tệ. Theo Keynes, người ta có thể giữ tài sản với nhiều hình thức như: giữ dưới dạng tiền, dưới dạng các loại chứng khoán có giá… Trong đó, Keynes cho rằng của cải dưới dạng tiền là thuận lợi nhất. Do vậy con người có khuynh hướng gắn liền với nó, mà lãi suất là phần thưởng cho sự xa rời đối với tiền mặt. Lãi suất là chi phí cơ hội cho việc giữ tiền mặt.
Lãi suất cao tức chi phí cơ hội cho việc giữ tiền mặt cao nên người ta giảm việc giữ tiền mặt và ngược lại. Vì vậy, ưa thích tiền mặt là một khuynh hướng ấn định tiền mặt mà người ta muốn giữ lại theo lãi suất nhất định. Với những phân tích trên Keynes cho rằng cần phải giảm lãi suất để kích thích đầu tư. Việc giảm lãi suất được thực hiện bằng chính sách tiền tệ mở rộng, tạo ra lạm phát và từ đó kích thích người ta tiêu dùng, đầu tư kinh doanh và nhất là mở rộng thị trường chứng khoán cho hoạt động đầu tư gián tiếp phát triển.
Qua đó sẽ kích thích nền kinh tế tăng trưởng.3 Lý thuyết của trường phái trọng tiền M.Friedman, đại diện tiêu biểu của trường phái trọng tiền hiện đại, cũng có quan điểm tương tự J.KEYNES rằng lãi suất là kết quả của hoạt động tiền tệ. Tuy nhiên, quan điểm của M.Friedman khác cơ bản với Keynes ở việc xác định vai trò của lãi suất. Nếu Keynes cho rằng cầu tiền là một hàm của lãi suất còn M.Friedman dựa vào nghiên cứu các tài liệu thực tế thống kê trong một thời gian dài, ông đi đến khẳng định mức lãi suất không có ý nghĩa tác động đến lượng cầu tiền mà cầu tiền biểu hiện là một hàm của thu nhập và đưa ra khái niệm tính ổn định cao của cầu tiền tệ. Tóm lại, lãi suất là chi phí mà người đi vay phải trả cho người cho vay để có quyền sử dụng quỹ tiền của người cho vay trong khoảng thời gian đã thỏa thuận.
Lãi suất có thể quy định theo hai cách, cách thứ nhất và phổ biến nhất là tỷ lệ phần trăm (%), cách thứ hai, ít sử dụng hơn là tính theo điểm cơ bản (basis point) – ký hiệu bps, một điểm cơ bản có giá trị bằng 0,01%.2 Phân loại lãi suất: 1.1 Căn cứ vào tiêu thức quản lý vĩ mô Lãi suất trần và lãi suất sàn: Là lãi suất thấp nhất và cao nhất do Ngân hàng Trung ương (NHTW) ấn định cho các Ngân hàng Thương mại (NHTM) hoặc do các NHTM quy định trong hệ thống của nó, trong nghiệp vụ huy động vốn và cho vay. Lãi suất trần và lãi suất sàn hình thành khung lãi suất, các NHTM xây dựng lãi suất kinh doanh trong phạm vi của khung này. Lãi suất cơ bản: là lãi suất do NHTW công bố làm cơ sở cho các NHTM và các tổ chức tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế.2 Căn cứ vào tiêu thức nghiệp vụ tín dụng Lãi suất tiền gửi: Là lãi suất huy động vốn, dùng để tính lãi phải trả cho người gửi tiền. Lãi suất tiền gửi có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào thời hạn tiền gửi.
Sự biến động của lãi suất tiền gửi không chỉ ảnh hưởng tới quy mô nguồn vốn của ngân hàng, mà còn ảnh hưởng mạnh tới khối tiền và qua đó tới lạm phát. Chính vì vậy, việc áp dụng chính sách tăng lãi suất tiền gửi có hiệu quả cao trong kiềm chế đẩy lùi lạm phát. Lãi suất cho vay: Được áp dụng để tính lãi tiền vay mà người vay phải trả cho người cho vay. Về nguyên tắc mức lãi suất cho vay bình quân phải cao hơn mức lãi suất tiền gửi bình quân và có sự phân biệt giữa các khoản vay với thời hạn cho vay và mức độ rủi ro.
Sự thay đổi lãi suất cho vay có tác dụng đến quy mô cho vay và khả năng cung ứng tiền vào lưu thông.