Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đóng góp của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ngân hàng. Chương này trình bày về các yếu tố dự kiến được xem xét nghiên cứu như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), lạm phát, tăng trưởng và rủi ro tín dụng, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận 4 biên, tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động và khả năng thanh khoản. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Trình bày mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô tả số liệu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời xác định và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố. Chương 5: Kết luận, kiến nghị và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Trình bày tóm tắt kết quả đạt được và các khuyến nghị.
Đưa ra các hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỶ LỆ THU NHẬP LÃI THUẦN CỦA NGÂN HÀNG 2. Tỷ lệ thu nhập lãi thuần Nghiên cứu của Ho và Saunders (1981) về tỷ lệ thu nhập lãi thuần là khung tham chiếu cho những nghiên cứu về những yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần. Mô hình mở rộng và tích hợp phương pháp bảo hiểm rủi ro và tối đa lợi ích dự kiến (Pyle, 1970).
Ngân hàng được xem hoạt động theo hướng ngại rủi ro giữa tiền gửi và tiền vay, điều này đến một cách ngẫu nhiên với xác suất phụ thuộc vào mức biên lợi nhuận ngân hàng xác định và độ co giãn của cầu khoản vay so với cung tiền gửi, sự ngẫu nhiên này cho thấy ngân hàng chịu rủi ro về lãi suất. Giả sử cung tiền gửi mới vào ngân hàng nhưng cao hơn nhu cầu vay, thì ngân hàng sẽ đầu tư trên thị trường tiền tệ điều này tương ứng ngân hàng sẽ chịu rủi ro tái đầu tư. Mặt khác nếu cầu cho vay lớn hơn cung tiền gửi thì ngân hàng phải huy động trên thị trường và cho vay lại tức là sẽ chịu rủi ro tái cấp vốn và trong cả hai trường hợp ngân hàng đều chịu rủi ro tín dụng. Do đó, một ngân hàng ngại rủi ro sẽ yêu cầu mức biên lợi nhuận cao hơn.
Mức chênh lệch lãi suất thuần được tính như sau: s = RL - RD = (a + b) Trong đó: RL là lãi suất cho vay, RD là lãi suất tiền gửi, a là phí tính bởi ngân hàng để cung cấp khoản vay, b là phần bù rủi ro bù đắp cho rủi ro tái đầu tư. Ho và Saunder cho rằng mức lãi suất tiền gửi và tiền vay phụ thuộc vào 4 yếu tố đó là: mức ngại rủi ro, cấu trúc thị trường ngân hàng, kích thước bình quân những giao dịch ngân hàng, sự biến động lãi suất, thể hiện qua công thức như sau: s = (a + b) = α/β + 1/2Rσi2Q Trong đó: - α/β: đo lường độ co giãn của cung và cầu vốn; - R: đo lường mức độ ngại rủi ro; 6 - Q: đo lường quy mô giao dịch; σi2: đo lường phương sai lãi suất. Bản chất của một ngân hàng thương mại ban đầu là huy động và cho vay, sau này phát sinh thêm các hoạt động khác như bảo lãnh, phát hành chứng khoán, các dịch vụ thẻ, bảo lãnh thanh toán, giao dịch ngoại hối, chứng khoán… để tăng khả năng sinh lời, phân bổ rủi ro. Theo Rose (1999), tỷ lệ thu nhập lãi thuần đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đổi các nguồn vốn có chi phí thấp.
Công thức tính tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) như sau: Thu nhập lãi thuần trong kỳ NIM = Tổng tài sản sinh lời bình quân Thu nhập lãi thuần của ngân hàng: Theo Nguyễn Thị Loan (2012), doanh thu của các ngân hàng thương mại được hình thành từ lãi, phí các hoạt động cấp tín dụng, kinh doanh đầu tư chứng khoán, từ kinh doanh ngoại tệ và các dịch vụ ngoại bảng khác. Trong đó, thu nhập lãi chiếm tỷ trọng chủ yếu trong doanh thu của các ngân hàng thương mại trong khoảng giai đoạn từ 2006 – 2015 là khoảng 70% – 90% tổng thu nhập hoạt động của các ngân hàng. Chi phí của Ngân hàng thương mại bao gồm các khoản chi trả lãi tiền gửi của khách hàng, chi trả lãi tiền vay, chi kinh doanh ngoại tệ vàng bạc đá quý, chi quản lý. Trong đó chi trả lãi tiền gửi của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Để hạ thấp chi phí nhằm đảm bảo kinh doanh có lãi phải có biện pháp giám sát hợp lý với từng loại chi phí. Ngân hàng thương mại áp dụng nguyên tắc dồn tích để hạch toán dự thu và dự trả lãi. Nếu chỉ xem xét con số tuyệt đối mà chưa xem xét đến quy mô tài sản, cụ thể là tài sản sinh lãi của ngân hàng đó có thể không đánh giá chính xác khả năng tạo ra thêm lợi nhuận từ lãi vay ròng từ một đồng tài sản sinh lời. Tài sản sinh lãi: các khoản tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi và cho vay 7 ở các tổ chức tín dụng khác, chứng khoán kinh doanh, chứng khoán nợ đầu tư, cho vay khách hàng, các công cụ tài chính phái sinh và tài sản tài chính khác,.
Mỗi loại tài sản do đặc thù rủi ro và lợi nhuận khác nhau mà cho sinh lãi suất khác nhau. Một ngân hàng có khả năng phân bổ tài sản vào các tài sản sinh lãi tốt nhất, cho thu nhập lãi trong kỳ tốt nhất trong việc huy động nguồn và sử dụng nguồn vào những nơi hiệu quả nhất sẽ cho chỉ số NIM cao, bền vững. Đặc thù hoạt động của ngành ngân hàng là kinh doanh chênh lệch lãi suất, tùy theo chu kỳ tín dụng, chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước ở từng thời kỳ, bản thân ngân hàng ở chính sách cho vay ồ ạt hay thận trọng mà chỉ số NIM ở các thời kỳ khác nhau có thể khác nhau (ở cùng một ngân hàng) và giữa các ngân hàng khác nhau trong ngành. Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần 2.
Tăng trưởng kinh tế Theo Mankiw (2014), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. GDP (ký hiệu là Y) được chia thanh bốn thành phần: tiêu dùng (C), đầu tư (I), chi tiêu của Chính phủ (G) và xuất khẩu ròng (NX): Y = C + I +G + NX GDP danh nghĩa sử dụng giá hiện hành để tính giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế. GDP thực là sản lượng hàng hóa và dịch vụ được định giá theo mức giá cố định. GDP thực chỉ phản ánh sự thay đổi của số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất, vì vậy GDP thực là thước đo sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế.
Bernake và Gertler (1990) cho rằng sự tăng trưởng kinh tế sẽ làm tăng giá trị ròng của người đi vay, do đó làm giảm mức lãi biên. Gelos (2009) tìm được sự nghịch biến giữa tăng trưởng GDP và mức lãi biên. Trong nền kinh tế tăng trưởng nhu cầu về vốn tín dụng cho chi tiêu tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu chính phủ… sẽ tăng, mặt khác 8 nguồn tiền tạo ra từ các thành phần kinh tế cũng tăng từ đó tạo ra nguồn huy động lớn cho các ngân hàng. Do đó, nếu ngân hàng kiểm soát được chi phí huy động vốn và lãi suất cho vay sẽ tác động tốt đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần và ngược lại.
Điều này cho thấy cần thiết đề xuất vào mô hình nghiên cứu để đánh giá sự tương quan giữa tốc độ tăng trưởng GDP với tỷ lệ thu nhập lãi thuần tại Việt Nam. Lạm phát Theo Mankiw (2014), lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một thước đo chi phí tổng quát của các hàng hóa và dịch vụ được mua bởi một người tiêu dùng điển hình. Tính toán tỷ lệ lạm phát bằng cách sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính toán tỷ lệ lạm phát, đó là phần trăm thay đổi của chỉ số giá so với kỳ trước.
Tức là, tỷ lệ lạm phát giữa hai năm liên tiếp được tính như sau: Tỷ lệ lạm phát năm t = * 100 Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát được thể hiện thông qua hiệu ứng Fisher: Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Lạm phát Ngoài ra, khi nền kinh tế trong tình trạng lạm phát, công cụ đầu tiên mà các ngân hàng trung ương thực hiện là chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm tăng lãi suất và ngược lại, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân hàng có thể thu hút phần lớn số tiền có trong lưu thông khiến cho đồng tiền trong lưu thông giảm, cơ số tiền và lượng tiền cung ứng giảm, lạm phát được kiềm chế. Do đó, giữa lãi suất cho vay và huy động vốn sẽ có mối quan hệ với lạm phát. Như vậy, lãi suất và tỷ lệ lạm phát có mối liên hệ, nghiên cứu của Honohan (2003) và Gelos (2009) cho thấy sự tương quan thuận chiều giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng. Tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng Hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính của các ngân hàng, do đó biến động tăng giảm trong hoạt động tín dụng sẽ ít nhiều tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng.
Theo Rose (1999), một số tài sản của ngân hàng (đặc biệt là các khoản vay) giảm giá trị hay không thể thu hồi là biểu hiện của rủi ro tín dụng. Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng so với tổng giá trị tài sản là rất nhỏ nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề sẽ có thể đẩy một ngân hàng tới nguy cơ phá sản. Một trong những chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất trong việc đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng là tỷ số giữa dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng cho vay và cho thuê hay với tổng vốn chủ sở hữu.