Chương 1: Cơ sở lý luận về điều hành chính sách tiền tệ và công cụ lãi suất Chương 2: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ thông qua công cụ lãi suất tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ thông qua công cụ lãi suất tại Việt Nam. 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ ĐIỀU HÀNH VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CÔNG CỤ LÃI SUẤT 1. Tổng quan về iều àn c ín sác tiền tệ 1. ái niệm: Nghiên cứu của nhà kinh tế học Keynes trong Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (1936) chỉ ra rằng chính sách tiền tệ đóng vai trò rất lớn trong việc cải thiện triển vọng kinh tế và tăng mức sống xã hội, vì chính sách tiền tệ có thể tác động làm thay đổi tổng cung tổng cầu của nền kinh tế, qua đó tác động đến sản lượng, lạm phát và công ăn việc làm.
Nhà kinh tế Hoàng Xuân Quế (2005) cũng đã đưa ra khái niệm về điều hành chính sách tiền tệ như sau: “Điều hành chính sách tiền tệ là tổng thể các quan điểm, giải pháp, các công cụ và cách thức mà NHTW sẽ thực hiện nhằm tác động vào dòng chu chuyển tiền và khối tiền cung ứng trong nền kinh tế từ đó hướng đến các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô, hướng đến mục tiêu cuối cùng là ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy kinh tế xã hội tăng trưởng ổn định.” Về cơ bản có 2 loại chính sách tiền tệ là chính sách tiền tệ thắt chặt và chính sách tiền tệ nới lỏng (Nguyễn Đăng Dờn, 2008) như sau: C ín sác t ắt c ặt tiền tệ được dùng trong thời kỳ nền kinh tế có sự phát triển thái quá, lạm phát gia tăng, làm giảm cung tiền trong nền kinh tế, kìm hãm bớt đà tăng trưởng nóng của nền kinh tế. Chính sách tiền tệ thắt chặt được sử dụng thông qua việc đưa ra mức lãi suất tăng lên, làm tăng chi phí trả lãi của người đi vay, làm giảm luồng tiền mặt ròng và trạng thái tài chính của người vay yếu kém; hoặc lãi suất tăng lên làm giá của các tài sản khác giảm xuống, trong đó có giá của các tài sản thế chấp của người vay. NHTW còn có thể bán các tài sản tài chính trên thị trường để làm giảm lượng cung tiền trong nền kinh tế từ đó làm tăng các lãi suất ngắn hạn trên thị trường. C ín sác tiền tệ nới lỏng được áp dụng trong điều kiện nền kinh tế bị suy thoái, làm tăng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế, mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, gia tăng sản lượng cho nền kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm.
4 Chính sách nới lỏng tiền tệ mở rộng thường bao hàm nghiệp vụ NHTW mua trái phiếu chính phủ ngắn hạn nhằm làm giảm các mức lãi suất ngắn hạn trên thị trường. Tuy nhiên, khi lãi suất ngắn hạn đã gần ở mức 0 hoặc bằng 0%, thì chính sách tiền tệ truyền thống sẽ không thể hạ thấp lãi suất được nữa. Khi đó, nới lỏng tiền tệ có thể được sử dụng nhằm kích thích kinh tế bằng cách mua các tài sản dài hạn (không phải là trái phiếu chính phủ ngắn hạn), và như vậy sẽ khiến lãi suất dài hạn giảm xuống, chính sách này gọi là chính sách nới lỏng định lượng1 - thuộc về nhóm chính sách tiền tệ phi truyền thống được NHTW sử dụng nhằm kích thích nền kinh tế khi các chính sách tiền tệ truyền thống đã bị vô hiệu. NHTW áp dụng nới lỏng bằng cách mua các tài sản tài chính từ ngân hàng thương mại và các tổ chức tư nhân khác (quỹ hưu trí, doanh nghiệp) nhằm bơm một lượng tiền xác định vào nền kinh tế.
Mặc dù có sự khác nhau về việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ ở các nước nhưng nhìn chung việc xây dựng khuôn khổ chính sách tiền tệ ở các nước đều bao gồm các bước chính như sau: (1) lựa chọn hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ (2) xác định cơ chế truyền tải của chính sách tiền tệ (3) lựa chọn các công cụ của chính sách tiền tệ để điều hành. ục tiêu của c ín sác tiền tệ Chính sách tiền tệ có 3 mục tiêu cơ bản, được xem là mục tiêu cuối cùng thường xuyên được nhắc đến như sau: ột là, ổn ịn giá trị ồng tiền - kiềm c ế lạm p át: Lạm phát xảy ra có thể tác động 2 mặt đến nền kinh tế: nếu lạm phát vừa phải, có thể dự đoán được thì có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế, còn khi lạm phát xảy ra qua cao với sự biến động quá lớn sẽ dẫn đến sai lệch các tín hiệu thị trường, gây khó khăn cho tăng trưởng kinh tế. Theo nghiên cứu của Moihsin S.Khan (2002) thì tỷ lệ lạm phát tối đa thúc đẩy kinh tế phát triển ở những nước phát triển là 1%/năm, còn ở những nước đang phát triển là 11%/năm. Như vậy, việc ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát có ý nghĩa hết sức quan trọng trong các mục tiêu của chính sách tiền tệ của NHTW.
Thông qua chính sách tiền tệ, NHTW kiểm soát được lạm phát, 1 Tham khảo thêm “ Tổng quan về QE (Nới lỏng định lượng) và tác động của nó (QE1, QE2, QE3), Tạp chí CFO Việt, 6/8/2013 5 giữ ổn định sức mua của đồng tiền trước hết đối với các hàng hóa trong nước và cả so với đồng tiền nước ngoài thể hiện qua tỷ giá hối đoái. Hai là, giải quyết việc làm, cho lao động trong xã hội. Thông qua chính sách tiền tệ mở rộng hay thắt chặt, NHTW tác động vào khối tiền cung ứng cho nền kinh tế, từ đó tác động vào quyết định mở rộng hay thu hẹp đầu tư của người dân, qua đó tác động đến số việc làm được tạo ra trong xã hội. Mục tiêu này luôn có tác dụng triệt tiêu đối với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả.
Khi thực hiện chính sách nới lỏng, tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội thì nguy cơ lạm phát trong nền kinh tế càng gia tăng. Do đó trước hết cần xác định được mục tiêu đầu tiên, cơ bản của chính sách tiền tệ trong giai đoạn kinh tế cụ thể để có thể đưa ra đối sách phù hợp. Ba là, tăng trƣởng kin tế, tăng trưởng kinh tế được thể hiện qua tỷ lệ QDP, GNP hàng năm tăng trưởng tốt, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế tăng, cơ cấu kinh tế cân đối hợp lý. Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ, bằng mọi phương thức cần huy động được hầu hết các nguồn vốn nhàn rỗi trong và ngoài nước biến thành nguồn đầu tư cho xã hội để phục vụ cho mục tiêu này, Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hòa Các mục tiêu này là các mục tiêu trung và dài hạn do độ trễ của chính sách tiền tệ đến các biến số kinh tế.
Bằng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ, NHTW không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng này. Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thường xuất hiện với độ trễ từ 6 tháng đến 2 năm. Do đó, NHTW các nước thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng. Các mục tiêu này gọi là mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ (Bùi Văn Luyện, 2011): Các mục tiêu trung gian là các biến số mà NHTW có thể đo lường chính xác và kiểm soát được kịp thời.
Mục tiêu trung gian là biến số tiền tệ có quan hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng, là cơ sở dự báo mục tiêu cuối cùng. 6 Các chỉ tiêu thường được sử dụng làm mục tiêu trung gian là tổng khối lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất thị trường. Mỗi mục tiêu được lựa chọn gắn liền với những diễn biến kinh tế và thị trường tài chính trong từng giai đoạn phát triển. Để lựa chọn mục tiêu trung gian cần phân tích kỹ lưỡng về các diễn biến kinh tế tiền tệ hiện tại, dự báo tương lai, xác định rõ hướng phát triển kinh tế trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
ục tiêu oạt ộng là các biến số tiền tệ mà NHTW có thể dự báo và tác động hay kiểm soát một các trực tiếp hơn so với mục tiêu trung gian có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của công cụ CSTT. Mục tiêu hoạt động phải có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu trung gian, là cầu nối trực tiếp cho các tác động của chính sách tiền tệ đến mục tiêu trung gian. Các chỉ tiêu này bao gồm: tổng dự trữ của các ngân hàng trung gian, lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, hoặc lãi suất tín phiếu kho bạc. Bằng việc đạt được mục tiêu về các chỉ tiêu này, NHTW có thể đạt được mục tiêu trung gian và do đó mục tiêu cuối cùng sau một khoảng thời gian nhất định.
Sự phản ứng nhanh chóng và chính xác của các chỉ tiêu này mỗi khi NHTW điều chỉnh CSTT giúp cho NHTW có thể kiểm tra tính đúng đắn của các quyết định trong điều hành CSTT hàng ngày. Tiêu chuẩn lựa chọn mục tiêu hoạt động cũng tương tự như mục tiêu trung gian, chỉ có điều các chỉ tiêu được lựa chọn làm mục tiêu hoạt động phải có ảnh hưởng mạnh đến các mục tiêu trung gian. Vì thế, sự lựa chọn mục tiêu hoạt động phụ thuộc vào việc NHTW chọn chỉ tiêu nào làm mục tiêu trung gian: lãi suất hay tổng lượng tiền. Tóm lại, chính sách tiền tệ chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi NHTW lựa chọn được một hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ phù hợp.
Trong từng thời kỳ, các mục tiêu thường được lượng hóa cụ thể phù hợp với diễn biến kinh tế và tiền tệ. Nhìn tổng quát và có chiến lược lâu dài thì các mục tiêu chính sách tiền tệ có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Tuy nhiên, có lúc, trong thời gian ngắn có thể xảy ra sự xung đột, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau giữa các mục tiêu. chỉ có thể đạt được một mục tiêu khi chấp nhận sự cắt giảm nhất định đối với mục tiêu khác.
Điều đó cho thấy rằng trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ không thể tuyệt đối hoá một mục tiêu nào, không thể giải quyết các mục tiêu một cách độc 7 lập trên tầm vĩ mô.