Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Vận dụng quy tắc Taylor trong cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Trần Ân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lý Hoàng Ánh tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (bảo vệ năm 2017, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, mã số 62.01).

Trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế và đổi mới tài chính với sự xuất hiện của các công cụ phái sinh như chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) hay hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng (CDS), việc xác định tổng phương tiện thanh toán trở nên phức tạp. Cầu tiền kém ổn định trong ngắn hạn khiến các ngân hàng trung ương (NHTW) trên thế giới có xu hướng chuyển dần từ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) theo khối lượng tiền tệ (M1, M2) sang điều hành lãi suất mục tiêu. Tại Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từng biến động mạnh (tăng 19,89% năm 2008 và 18,13% năm 2011 theo số liệu của Tổng cục Thống kê), đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xác định loại lãi suất chủ đạo và mức lãi suất phù hợp nhằm kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong giai đoạn nghiên cứu chưa công bố định kỳ thông tin CSTT, khiến thị trường thiếu cơ sở tham chiếu khoa học.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ dừng lại ở việc dùng quy tắc Taylor để kiểm định một loại lãi suất riêng lẻ (lãi suất công trái hoặc lãi suất tái chiết khấu) mà chưa bao quát toàn diện các công cụ lãi suất điều hành của NHNN (lãi suất cơ bản, trần lãi suất huy động, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu) và chưa nghiên cứu việc ứng dụng quy tắc này vào quy trình ra quyết định điều hành lãi suất thực tế.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Làm rõ khả năng và cách thức vận dụng quy tắc Taylor trong cơ chế điều hành lãi suất của NHNN nhằm thực hiện mục tiêu ổn định lạm phát và tăng trưởng kinh tế bền vững.
  2. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể để vận dụng quy tắc Taylor vào cơ chế điều hành lãi suất của NHNN.

Để đạt được mục tiêu, luận án giải quyết bốn câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng chính sách lãi suất của NHNN giai đoạn 2000 – 2015 có tuân theo quy tắc Taylor hay không, và các bằng chứng dữ liệu thực nghiệm thể hiện điều đó như thế nào?
  2. Loại lãi suất nào được đề xuất làm lãi suất chính sách (LSCS) của NHNN thông qua phân tích quy tắc Taylor?
  3. NHNN vận dụng quy tắc Taylor như thế nào trong cơ chế điều hành lãi suất nhằm đạt hai mục tiêu ổn định lạm phát và tăng trưởng kinh tế? Các điều kiện và giải pháp đi kèm là gì?
  4. Các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng kết quả nghiên cứu như thế nào khi ra quyết định CSTT phối hợp với các chính sách vĩ mô khác thông qua quy trình chủ động và cơ chế công bố thông tin minh bạch?

Đối tượng nghiên cứu: Sự vận dụng quy tắc Taylor trong cơ chế điều hành lãi suất của NHNN.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Cơ sở lý luận về quy tắc Taylor; kinh nghiệm điều hành của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), Ngân hàng Trung ương Anh (BoE), Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ), Ngân hàng Trung ương Úc (RBA); điều kiện, thuận lợi và khó khăn khi áp dụng tại Việt Nam; phương pháp phân tích định lượng chính sách lãi suất.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Việt Nam trong mối tương quan với các nền kinh tế trên thế giới.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích chuỗi dữ liệu theo quý từ quý I/2000 đến quý IV/2015 (2000Q1 – 2015Q4) và dự báo kinh tế vĩ mô năm 2016. Các giải pháp đề xuất định hướng theo chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và CSTT giai đoạn 2011 – 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử phát triển của các quy tắc CSTT trên thế giới:

  • Knut Wicksell (1898) với tác phẩm Interest and Prices đưa ra khái niệm lãi suất thực tự nhiên ($r^*$) và quy tắc Wicksell ($\Delta i = \theta\pi$), khẳng định mức giá ổn định khi lãi suất thực tế bằng lãi suất tự nhiên.
  • Milton Friedman đề xuất quy tắc cung tiền với tốc độ tăng trưởng $k%$ cố định dựa trên sản lượng tiềm năng và tốc độ vòng quay tiền ($\Delta m = \pi^* + \Delta q^* - \Delta v^*$).
  • Bennett McCallum (1988, 2000) đưa ra quy tắc khối lượng tiền cơ sở ($\Delta m_t = \Delta x^* - \Delta v_t^* + 0,5(\Delta x^* - \Delta x_{t-1})$) dựa trên thu nhập danh nghĩa tự nhiên.
  • John B. Taylor (1993) công bố bài viết Discretion versus policy rules in practice, giới thiệu quy tắc thiết lập LSCS dựa trên độ lệch lạm phát và độ lệch sản lượng, phản ánh sát lãi suất quỹ liên bang Mỹ (FFR) giai đoạn 1987 – 1992.
  • Athanasios Orphanides (2002, 2007) phân tích lịch sử CSTT Mỹ giai đoạn 1920 – 1960 qua quy tắc Taylor và phân tích sự chuyển đổi từ kiểm soát lượng tiền sang kiểm soát lãi suất.
  • George A. Kahn (2010), Asso, Kahn và Leeson (2010), cùng Bản tin hàng tháng của NHTW Châu Âu (tháng 10/2001) đánh giá các ưu điểm và hạn chế của quy tắc Taylor trong thực tiễn NHTW.
  • Lars E. O. Svensson (1997, 2001, 2003) phân tích quy tắc công cụ (instrument rules) so với quy tắc mục tiêu (targeting rules) dựa trên hàm tổn thất tối thiểu của NHTW.
  • Các biến thể mở rộng: dạng nhìn về quá khứ (Woglom 2003), dạng hướng về tương lai (Qin và Enders 2008), dạng hỗn hợp (Barnett và Duzhak 2008), dạng kết hợp quy tắc Taylor – McCallum (Mehrotra và Sánchez-Fung 2010; Danfeng 2008).
  • Các thực nghiệm quốc tế: Paul Söderlind, Ulf Söderström và Anders Vredin (2004) áp dụng mô hình DSGE với dữ liệu Mỹ 1987Q4 – 1999Q4; Pierre L. Siklos và Mark E. Wohar (2005) dùng OLS kiểm định điểm gãy cấu trúc và ARCH cho dữ liệu Mỹ 1959Q1 – 2003Q4; John Driffill và Zeno Rotondi (2007) đo lường tính ì CSTT (0,6 đến 0,77) giai đoạn 1961Q1 – 2004Q2; Lee và Crowley (2010) đánh giá chính sách của ECB giai đoạn 1999 – 2009.

Các nghiên cứu tại Việt Nam được luận án tổng thuật:

  • Nguyễn Thị Hương Liên (2010) (Yokohama Journal of Social Sciences) sử dụng dữ liệu 2000 – 2008 phân tích lãi suất công trái qua OLS và mô phỏng ngẫu nhiên, kết luận CSTT tối ưu có hệ số độ lệch sản lượng 0,3 và hệ số lạm phát 0,7; không tìm thấy bằng chứng NHNN tuân theo quy tắc Taylor.
  • Vũ Xuân Hòa (2012) nghiên cứu dữ liệu quý 2000 – 2011 với lãi suất ngắn hạn, kết luận chính sách lãi suất Việt Nam không tuân theo quy tắc Taylor.
  • Đào Mạnh Trường, Vũ Xuân Hòa và Nguyễn Thị Loan (2012) sử dụng dữ liệu 1996Q1 – 2011Q2 của IMF, áp dụng bộ lọc HP và hiệu chỉnh X12 cho lãi suất tái chiết khấu, kết luận NHNN điều hành theo hướng chủ động tùy ý và tập trung kiểm soát lạm phát.

Vị trí của luận án: Kế thừa các phương pháp ước lượng và mô phỏng hàm tổn thất, khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trong nước bằng việc phân tích toàn diện 4 loại lãi suất điều hành (lãi suất cơ bản, trần lãi suất, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn), đồng thời nghiên cứu quy trình và giải pháp vận dụng quy tắc Taylor vào cơ chế điều hành lãi suất của NHNN.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm vĩ mô

Quy tắc Taylor nguyên thủy (Taylor 1993) có dạng: $$i_t = \pi_t + 0,5(y_t) + 0,5(\pi_t - 2) + 2$$ Dạng tổng quát được viết lại: $$i_t = \pi_t + r^* + \alpha(\pi_t - \pi^) + \beta(y_t)$$ hay biến đổi thành: $$i_t = \pi^ + r^* + \beta_\pi(\pi_t - \pi^) + \beta_y(y_t)$$ Trong đó: $i_t$ là LSCS danh nghĩa; $r^$ là lãi suất thực cân bằng (lãi suất tự nhiên); $\pi_t$ là tỉ lệ lạm phát bình quân 4 quý liên tiếp; $\pi^*$ là tỉ lệ lạm phát mục tiêu dài hạn; $y_t$ là độ lệch sản lượng ($OGAP = 100 \times \frac{Y_t - \bar{Y}_t}{\bar{Y}_t}$ hoặc $100 \times \ln(Y_t / \bar{Y}t)$); $\alpha, \beta$ (hay $\beta\pi, \beta_y$) là các hệ số phản ứng chính sách.

Quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô và trạng thái cân bằng được chuẩn hóa trong nghiên cứu:

Biến số Giá trị cơ sở Thành tố (Độ lệch) Công thức Trạng thái cân bằng của nền kinh tế
Sản lượng thực ($Y$) Sản lượng tiềm năng ($\bar{Y}$) Độ lệch sản lượng $Y - \bar{Y}$ $Y - \bar{Y} = 0$
Lạm phát thực ($\pi$) Lạm phát mục tiêu ($\pi^*$) Độ lệch lạm phát $\pi - \pi^*$ $\pi - \pi^* = 0$
Lãi suất thực ($r$) Lãi suất tự nhiên ($r^*$) Độ lệch lãi suất $r - r^*$ $r - r^* = 0$
Tỉ lệ thất nghiệp thực ($u$) Tỉ lệ thất nghiệp NAIRU Độ lệch thất nghiệp $u - \text{NAIRU}$ $u - \text{NAIRU} = 0$

Nguồn: Tổng hợp từ nội dung luận án

Các khung lý thuyết bổ trợ:

  • Lãi suất tự nhiên ($r^*$): Được xác định theo phương pháp lịch sử (Archibald và Hunter 2001; Williams 2003), phương pháp trung bình dài hạn (Svensson 2001) hoặc mô hình không gian - trạng thái kết hợp bộ lọc Kalman (Laubach và Williams 2001; Bernhardsen và Gerdrup 2007).
  • Sản lượng tiềm năng ($\bar{Y}_t$): Được ước tính thông qua bộ lọc Hodrick-Prescott (HP filter) với tham số làm trơn $\lambda = 1600$ cho dữ liệu quý, mô hình không gian - trạng thái của Watson (1986) và hàm sản xuất Cobb-Douglas ($Y_t = A_t N_t^\alpha K_t^{1-\alpha}$).
  • Đường cong Phillips: $\pi_t = E_{t-1}\pi_t + \phi(Y_t - \bar{Y}_t) + v_t$.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng:

  1. Phương pháp định tính: Phân tích lịch sử, đối chiếu chính sách, tổng hợp kinh nghiệm điều hành của Fed, BoE, ECB, BoJ, RBA để rút ra bài học cho Việt Nam.
  2. Phương pháp tính toán thông thường (không hồi quy): Tính toán chuỗi LSCS lý thuyết theo quy tắc Taylor gốc và các mức lạm phát mục tiêu ($\pi^* = 5%$/năm và các kịch bản khác) rồi so sánh với lãi suất thực tế (lãi suất cơ bản, trần lãi suất huy động, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn).
  3. Phương pháp kinh tế lượng:
    • Kiểm định tính dừng (kiểm định nghiệm đơn vị) của các chuỗi số liệu.
    • Hồi quy OLS mô hình quy tắc Taylor gốc và mô hình làm phẳng lãi suất (interest rate smoothing) qua các giai đoạn 2000Q1 – 2015Q4, 2000Q1 – 2007Q4 và 2008Q1 – 2015Q4.
    • Mô hình véc tơ tự hồi quy VAR(p): Lựa chọn độ trễ tối ưu, kiểm định tính bền vững/ổn định hệ thống, phân tích phản ứng đẩy (IRF) qua 8 quý và 24 quý, và phân rã phương sai (Variance Decomposition) để đánh giá tác động tương hỗ giữa lãi suất ($i_t$), lạm phát ($INF$) và độ lệch sản lượng ($OGAP$).
    • Tối ưu hóa hàm tổn thất qua phương pháp mô phỏng ngẫu nhiên: Thiết lập lưới hệ số $\beta_\pi$ và $\beta_y$ chạy từ 0,1 đến 1,5 với bước nhảy 0,1 để tìm cặp hệ số cực tiểu hóa hàm tổn thất của NHTW, sau đó kiểm định lại bằng dữ liệu thực tế.
    • Phương pháp bình phương bé nhất hai giai đoạn (TSLS): Phân tích quy tắc kết hợp Taylor – McCallum về mối liên hệ giữa lãi suất và tổng phương tiện thanh toán M2.

Nguồn dữ liệu và công cụ:

  • Dữ liệu thu thập từ Tổng cục Thống kê Việt Nam (TCTK), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) từ 2000Q1 đến 2015Q4. GDP thực được quy đổi theo giá cố định năm gốc 1994. Tỉ lệ lạm phát quý tính theo CPI từng tháng so với tháng trước; lạm phát 4 quý liền kề tính theo bình quân trượt 4 quý.
  • Công cụ phần mềm xử lý dữ liệu: EViews 6.0.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quy tắc Taylor và vai trò quy tắc Taylor trong cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương – Sự vận dụng ở các nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về quy tắc Taylor từ khái niệm, công thức gốc, các thành tố cấu thành ($r^, \pi^, y_t$) đến các dạng phát triển: nhìn về quá khứ (backward-looking), hướng về tương lai (forward-looking), dạng hỗn hợp (hybrid) và dạng kết hợp quy tắc Taylor – McCallum. Chương này phân tích cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất, vai trò của quy tắc Taylor trong nền kinh tế mở và đánh giá thực tiễn vận dụng tại 5 NHTW lớn: Fed (Mỹ), BoE (Anh), ECB (Khu vực Euro), BoJ (Nhật Bản), RBA (Úc). Từ đó, tác giả chỉ ra các điều kiện cần thiết để áp dụng quy tắc Taylor (mục tiêu lạm phát rõ ràng, hệ thống dự báo kinh tế lượng chuẩn xác, thị trường tài chính phát triển, cơ chế điều hành minh bạch), phân tích những thuận lợi và rào cản khi triển khai tại Việt Nam, rút ra bài học kinh nghiệm về việc chuyển đổi khuôn khổ điều hành CSTT.

Chương 2: Phương pháp phân tích thực trạng chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bằng quy tắc Taylor

Chương 2 trình bày chi tiết khung kỹ thuật và quy trình thực hiện các mô hình định lượng. Nội dung bao gồm: quy trình tính toán phi hồi quy; quy trình hồi quy OLS quy tắc Taylor truyền thống và dạng làm phẳng lãi suất; phương pháp xác định độ trễ, kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định quan hệ nhân quả Granger, hàm phản ứng đẩy (IRF) và phân rã phương sai trong mô hình VAR; mô hình hàm tổn thất của NHTW và thuật toán mô phỏng ngẫu nhiên xác định hệ số tối ưu; mô hình TSLS tích hợp khối lượng tiền M2. Đồng thời, chương 2 làm rõ nguồn gốc dữ liệu quý (2000Q1 – 2015Q4), các giả thiết làm sạch dữ liệu, bộ lọc HP, và đánh giá ưu nhược điểm của từng phương pháp phân tích thực trạng lãi suất.

Chương 3: Thực trạng cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qua phân tích bằng quy tắc Taylor

Chương 3 tổng kết các giai đoạn và cột mốc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất của NHNN, phân tích đặc điểm các loại lãi suất điều hành (lãi suất cơ bản, trần lãi suất huy động và cho vay, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn). Kết quả kiểm định định lượng cho thấy:

  • Phân tích tính toán thông thường: So sánh độ lệch giữa các mức lãi suất thực tế với lãi suất lý thuyết theo quy tắc Taylor (Bảng 3.1, 3.2, 3.3). Lãi suất danh nghĩa của Việt Nam có sự chênh lệch đáng kể so với mức lãi suất tối ưu của quy tắc Taylor ở các mức mục tiêu lạm phát khác nhau.
  • Phân tích kinh tế lượng: Kiểm định tính dừng (Bảng 3.5), kết quả hồi quy OLS giai đoạn 2000Q1 – 2015Q4 (Bảng 3.6) và hai giai đoạn phụ 2000Q1 – 2007Q4 (Bảng 3.7), 2008Q1 – 2015Q4 (Bảng 3.8), hồi quy mô hình làm phẳng lãi suất (Bảng 3.9). Kết quả cho thấy chính sách lãi suất của NHNN trong giai đoạn 2000 – 2015 mang nặng tính chủ động tùy ý, phản ứng chậm trước các biến động lạm phát và độ lệch sản lượng.
  • Phân tích mô hình VAR(1): Kiểm định độ trễ tối ưu (Bảng 3.10) và tính bền vững (Bảng 3.11). Hàm phản ứng đẩy (Hình 3.1, Hình 3.2) và phân rã phương sai (Bảng 3.12) chỉ ra mức độ tác động và độ trễ của chính sách lãi suất đối với lạm phát và sản lượng trong 8 quý và 24 quý.
  • Mô phỏng hàm tổn thất: Kết quả mô phỏng ngẫu nhiên (Bảng 3.13, 3.14, 3.15) xác định bộ hệ số tối ưu cho Việt Nam và chứng minh rằng việc áp dụng quy tắc Taylor có thể làm giảm giá trị hàm tổn thất so với số liệu thực tế. Luận án thực hiện dự báo kinh tế vĩ mô và trần lãi suất cho năm 2016 (Bảng 3.16, Hình 3.3), đồng thời chỉ rõ những thành công và hạn chế trong quy trình ra quyết định lãi suất hiện hành của NHNN (Bảng 3.17).

Chương 4: Giải pháp cơ bản vận dụng quy tắc Taylor trong cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Dựa trên chiến lược phát triển kinh tế và định hướng CSTT giai đoạn 2011 – 2020, chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp nhằm vận dụng quy tắc Taylor vào cơ chế điều hành lãi suất của NHNN, chia làm hai nhóm:

  • Nhóm giải pháp vĩ mô: Đổi mới khuôn khổ CSTT sang cơ chế lạm phát mục tiêu; nâng cao tính độc lập của NHNN; tái cơ cấu quy trình ra quyết định lãi suất thông qua đề xuất thành lập Ủy ban Chính sách Tiền tệ (MPC) (Bảng 4.1); xây dựng cơ chế công bố thông tin CSTT minh bạch và định kỳ; tăng cường phối hợp giữa CSTT và chính sách tài khóa.
  • Nhóm giải pháp kỹ thuật: Chuẩn hóa và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu kinh tế vĩ mô; ứng dụng các kỹ thuật định lượng (bộ lọc HP, Kalman filter, mô hình DSGE, VAR) để ước tính chính xác lãi suất tự nhiên ($r^*$) và sản lượng tiềm năng ($\bar{Y}$); lựa chọn trần lãi suất hoặc một mức lãi suất định hướng thị trường liên ngân hàng làm LSCS duy nhất; áp dụng bộ hệ số phản ứng phù hợp xác định từ hàm tổn thất tối ưu.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp về lý luận:
    • Hệ thống hóa toàn diện lý thuyết về quy tắc Taylor gốc và các dạng mở rộng hiện đại (hướng về tương lai, nhìn về quá khứ, dạng hỗn hợp, quy tắc kết hợp Taylor – McCallum).
    • Tổng kết và phân tích kinh nghiệm vận dụng quy tắc Taylor của các NHTW lớn trên thế giới (Fed, ECB, BoE, BoJ, RBA) để làm rõ các điều kiện tiền đề cần thiết khi áp dụng quy tắc này trong điều hành kinh tế vĩ mô.
  2. Đóng góp về thực tiễn:
    • Kiểm định đồng thời 4 loại lãi suất điều hành của NHNN (lãi suất cơ bản, trần lãi suất, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn) giai đoạn 2000 – 2015 qua cả phương pháp tính phi hồi quy và các mô hình kinh tế lượng (OLS, VAR, TSLS).
    • Đưa ra bằng chứng thực nghiệm khẳng định chính sách lãi suất của NHNN trong giai đoạn 2000 – 2015 chưa tuân thủ quy tắc Taylor, còn mang tính tùy ý và gián đoạn.
    • Ứng dụng phương pháp mô phỏng ngẫu nhiên hàm tổn thất của NHTW theo 3 dạng để xác định bộ hệ số tối ưu giữa độ lệch lạm phát và độ lệch sản lượng cho CSTT Việt Nam, chứng minh quy tắc Taylor giúp giảm thiểu tổn thất kinh tế so với thực tế điều hành.
    • Đề xuất mô hình quy trình ra quyết định lãi suất mới cho NHNN, bao gồm kiến nghị thành lập Ủy ban Chính sách Tiền tệ chuyên trách và xây dựng quy chế công bố biên bản họp, báo cáo lạm phát định kỳ nhằm nâng cao tính minh bạch và định hướng kỳ vọng thị trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Luận án tự chỉ ra một số hạn chế cụ thể:

  • Hạn chế về số liệu: Nguồn dữ liệu kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu chưa hoàn toàn đồng nhất và liên tục giữa các cơ quan thống kê, làm ảnh hưởng nhất định đến độ chính xác của các ước lượng định lượng (đặc biệt là chuỗi sản lượng tiềm năng và lãi suất tự nhiên).
  • Giới hạn tài liệu tiếp cận: Do khối lượng nghiên cứu quốc tế về quy tắc Taylor từ năm 1993 đến nay rất lớn, tác giả chủ yếu tập trung vào các công trình kinh điển và tiêu biểu của một số quốc gia đại diện.
  • Tính mới trong ứng dụng: Quy tắc Taylor vốn được giới học thuật quốc tế sử dụng chủ yếu để kiểm định, đánh giá lại CSTT trong quá khứ; việc nghiên cứu áp dụng trực tiếp quy tắc này vào quy trình điều hành tác nghiệp thực tế tại một thị trường mới nổi như Việt Nam là hướng tiếp cận mới nên vẫn còn các khía cạnh cần tiếp tục hoàn thiện và thảo luận.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2015, mở rộng ước lượng bằng các mô hình kinh tế vĩ mô cấu trúc phức tạp hơn (như mô hình DSGE cho nền kinh tế nhỏ, mở) khi hệ thống dữ liệu quốc gia được hoàn thiện.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, các ủy ban kinh tế): Tham khảo khung phân tích định lượng, quy trình ra quyết định lãi suất đề xuất, phương pháp ước lượng hàm tổn thất và cơ chế công bố thông tin định hướng thị trường.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Tài chính – Ngân hàng và Kinh tế học: Nguồn tài liệu hệ thống về lý thuyết tiền tệ hiện đại, các biến thể quy tắc Taylor, quy tắc McCallum, kỹ thuật kinh tế lượng chuỗi thời gian (bộ lọc HP, bộ lọc Kalman, mô hình VAR, mô phỏng ngẫu nhiên) xử lý trên phần mềm EViews.

Câu hỏi thường gặp

1. Công thức gốc của quy tắc Taylor (1993) và các thành tố cấu thành được luận án trình bày như thế nào? Công thức gốc của Taylor (1993) là $i_t = \pi_t + 0,5(y_t) + 0,5(\pi_t - 2) + 2$, hay $i_t = \pi^* + r^* + 1,5(\pi_t - \pi^) + 0,5(y_t)$. Trong đó, $i_t$ là lãi suất chính sách; $r^$ là lãi suất thực cân bằng (giả định bằng 2%); $\pi_t$ là lạm phát bình quân 4 quý; $\pi^*$ là lạm phát mục tiêu (2%); $y_t$ là độ lệch sản lượng giữa GDP thực và GDP tiềm năng.

2. Giai đoạn nghiên cứu và các phương pháp định lượng chính được sử dụng trong luận án là gì? Luận án nghiên cứu chuỗi dữ liệu quý giai đoạn 2000Q1 – 2015Q4 (dự báo cho năm 2016). Các phương pháp định lượng bao gồm: tính toán phi hồi quy so sánh độ lệch lãi suất; hồi quy OLS mô hình tĩnh và mô hình làm phẳng lãi suất; mô hình véc tơ tự hồi quy VAR(1) với phân tích phản ứng đẩy (IRF) và phân rã phương sai; mô phỏng ngẫu nhiên tối ưu hóa hàm tổn thất; và hồi quy TSLS cho quy tắc kết hợp Taylor – McCallum với biến M2.

3. Kết luận của luận án về thực trạng điều hành lãi suất của NHNN giai đoạn 2000 – 2015 là gì? Phân tích thực nghiệm của luận án cho thấy chính sách lãi suất của NHNN trong giai đoạn 2000 – 2015 không tuân theo quy tắc Taylor mà mang tính chủ động tùy ý, thay đổi cơ chế điều hành qua nhiều cột mốc và phản ứng chưa kịp thời trước các biến động của độ lệch lạm phát và độ lệch sản lượng.

4. Luận án đề xuất giải pháp tổ chức nào để cải cách quy trình ra quyết định lãi suất của NHNN? Luận án đề xuất tái cấu trúc quy trình ra quyết định thông qua việc thành lập Ủy ban Chính sách Tiền tệ (MPC) chuyên trách, chuyển đổi dần sang khuôn khổ lạm phát mục tiêu, áp dụng quy tắc Taylor làm công cụ tham chiếu kỹ thuật và thiết lập cơ chế công bố thông tin định kỳ, minh bạch về CSTT.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Trần Ân đã cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống về cơ sở lý luận và thực nghiệm vận dụng quy tắc Taylor trong cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2000 – 2015. Bằng việc kết hợp các phương pháp kinh tế lượng OLS, VAR, TSLS và mô phỏng tối ưu hóa hàm tổn thất trên chuỗi dữ liệu 16 năm, luận án đã chỉ rõ các đặc điểm của chính sách lãi suất trong nước và chứng minh tính khả thi của quy tắc Taylor trong việc hỗ trợ ổn định lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các giải pháp về thể chế, thành lập Ủy ban CSTT và chuẩn hóa kỹ thuật định lượng được đề xuất là cơ sở khoa học giá trị phục vụ quá trình hiện đại hóa CSTT Việt Nam.