CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Tổng quan về lãi suất 1. Khái niệm Khi sử dụng bất kỳ một khoản tín dụng nào người vay cũng phải trả thêm một khoản giá trị ngoài phần vốn vay ban đầu. Tỷ lệ phần trăm của phần giá trị tăng thêm này so với giá trị gốc vay được gọi là lãi suất.
Như vậy lãi suất được định nghĩa là giá cả của quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định do người sử dụng vốn trả cho người sở hữu vốn. Khi tính đến giá trị thời gian của tiền thì đồng tiền hôm nay sẽ có giá trị lớn hơn đồng tiền ngày mai, do vậy người sử dụng vốn phải trả lãi cho người sở hữu vốn. Người cho vay chuyển quyền sử dụng vốn cho người khác có nghĩa là anh ta đã hi sinh quyền sử dụng vốn với mong muốn nhận được giá trị lớn hơn trong tương lai. Qua đó có thể thấy lãi suất là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi đầu tư, tiêu dùng, sản xuất của mọi đối tượng trong nền kinh tế.
Các cá nhân dựa vào lãi suất để quyết định nên tiêu dùng hay tiết kiệm. Các doanh nghiệp dựa vào lãi suất để phân bổ quyết định đầu tư vào tài sản như thế nào,…Xét ở phạm vi toàn xã hội, các quyết định này ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất thị trường 1. Nhìn từ góc độ cung cầu quỹ cho vay a.
Cung, cầu quỹ cho vay Cầu quỹ cho vay là nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Cầu quỹ cho vay bao gồm nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và hộ gia đình, nhu cầu vay vốn của khu vực chính phủ và nhu cầu vay vốn của chủ thể nước ngoài. Trong điều kiện các yếu tố ngoại sinh (lạm phát dự tính, khả năng sinh lời dự tính của các cơ hội đầu tư) không đổi, nhu cầu vốn của doanh nghiệp và hộ gia đình rất nhạy cảm với lãi 3 suất. Chính phủ cần vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước.
Nhu cầu vốn của khu vực này độc lập với lãi suất. Nhu cầu vốn của các chủ thể nước ngoài thể hiện phản ứng với sự chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia và phụ thuộc vào độ mở cửa và khả năng di chuyển vốn giữa hai nước. Cung quỹ cho vay là khối lượng vốn dùng để cho vay kiếm lời của các chủ thể khác nhau trong xã hội. Cung quỹ cho vay được cấu thành từ tiền gửi tiết kiệm của các hộ gia đình; nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp dưới hình thức quỹ khấu hao cơ bản, lợi nhuận chưa chia,…; các khoản chưa sử dụng đến của Ngân sách Nhà nước và nguồn vốn của các chủ thể nước ngoài.
Như vậy, cung quỹ cho vay được tạo bởi số vốn dư thừa của các chủ thể trong nền kinh tế. Mặc dù có những bộ phận biến động không phụ thuộc vào lãi suất nhưng tổng hợp lại cung quỹ cho vay phản ứng đồng biến với sự thay đổi của lãi suất trong điều kiện các yếu tố ngoại sinh (lạm phát dự tính, của cải,…) không đổi. Đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng vốn và lãi suất có hướng dốc lên hàm ý rằng ở mức lãi suất càng cao thì có càng nhiều người muốn cho vay. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất thị trường Những nhân tố làm dịch chuyển đường cầu quỹ cho vay -Lợi tức dự tính của các cơ hội đầu tư Khi nhu cầu đầu tư tăng lên ở mọi mức của lãi suất sẽ làm cho đường cầu quỹ cho vay dịch chuyển sang phải, lãi suất sẽ tăng và ngược lại.1: Dịch chuyển đường cầu quỹ cho vay Lãi suất S i’ D’ i D Q Q’ Quỹ cho vay Khi đường cầu quỹ cho vay dịch chuyển sang phải từ D D’ làm cho lãi suất tăng từ mức i lên i’.
-Lạm phát dự tính Lạm phát dự tính tăng làm cho lãi suất thực giảm, chi phí thực dự tính của việc vay tiền ở mọi mức lãi suất giảm. Điều này làm nhu cầu vay tiền tăng lên ở mọi mức lãi suất, đường cầu quỹ cho vay dịch sang phải, lãi suất tăng. Ngược lại, khi lạm phát dự tính giảm thì chi phí thực dự tính cho khoản tiền vay sẽ tăng làm nhu cầu vay vốn của các chủ thể trong nền kinh tế giảm, đường cầu quỹ cho vay dịch chuyển sang trái, lãi suất giảm. -Tình trạng thâm hụt Ngân sách Nhà nước Khi mức bội chi ngân sách nhà nước tăng, nhu cầu vay vốn ở cung chúng tăng ở mọi mức lãi suất.
Khi đó đường cầu quỹ cho vay dịch sang phải, lãi suất tăng. Những nhân tố làm dịch chuyển đường cung quỹ cho vay -Tài sản và thu nhập Trong nền kinh tế đang phát triển, thu nhập và tài sản của người dân tăng lên làm cho khả năng cung ứng vốn vay tăng ở mọi mức lãi suất. Khi đó đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang phải và lãi suất giảm. Ngược lại, khi nền 5 kinh tế suy thoái, thu nhập của các chủ thể trong nền kinh tế giảm, khả năng cung ứng vốn giảm ở mọi mức lãi suất, đường cung quỹ cho vay dịch sang trái, lãi suất tăng.2: Dịch chuyển đường cung quỹ cho vay Lãi suất S S’ i D i’ Q Q’ Quỹ cho vay -Tỷ suất lợi nhuận dự tính của công cụ nợ Tỷ suất lợi nhuận dự tính là tỷ lệ phần trăm giữa tổng thu nhập mà nhà đầu tư nhận được sau một khoảng thời gian đầu tư và công cụ nợ so với giá trị của khoản vốn đầu tư ban đầu.
Tỷ suất lợi nhuận dự tính không chỉ phụ thuộc vào lãi suất của công cụ nợ mà nó còn phụ thuộc vào sự biến động lãi suất của thị trường, đặc biệt là đối với các công cụ nợ dài hạn. Trong trường hợp lãi suất thị trường có xu hướng tăng lên, giá thị trường của công cụ nợ dài hạn sẽ bị giảm đi, do đó tỷ suất lợi nhuận dự tính của công cụ nợ cũng giảm theo. Công cụ nợ hiện tại trở nên kém hấp dẫn, làm giảm nhu cầu mua của các chủ thể kinh tế, cung quỹ cho vay giảm và đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang trái, lãi suất tăng. Ngược lại, khi lãi suất thị trường có xu hướng giảm, tỷ suất lợi nhuận của công cụ nợ tăng, cung quỹ cho vay tăng làm cho đường cung quỹ cho dịch chuyển sang phải, lãi suất giảm.
-Rủi ro 6 Khi mức độ rủi ro của các công cụ nợ tăng lên so với các công cụ đầu tư khác do giá cả công cụ nợ bất ổn, rủi ro vỡ nợ,… sẽ làm nhu cầu mua các công cụ nợ này giảm đi. Cung quỹ cho vay giảm, đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang bên trái, lãi suất tăng. Trong trường hợp ngược lại, cung quỹ cho vay tăng, đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang bên phải, lãi suất giảm. -Tính lỏng của các công cụ đầu tư Nếu tính lỏng của các công cụ nợ cao hơn tính lỏng của các công cụ đầu tư khác sẽ làm cho các công cụ nợ này hấp dẫn nhà đầu tư hơn, cầu công cụ nợ tăng lên ở mọi mức lãi suất.
Do đó cung quỹ cho vay cũng tăng lên, đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang phải, lãi suất giảm. Ngược lại, đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang trái, lãi suất tăng. Nhìn từ góc độ cung - cầu tiền tệ a. Cung-cầu tiền tệ Mức cầu tiền là lượng tiền mà các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân muốn nắm giữ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện tại và trong tương lai với giá cả và biến số kinh tế khác cho trước.
Cầu tiền được tạo bởi nhu cầu tiền tệ của các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân. Mức cung tiền được đề cập đến là M1. Thành phần của M1 gồm tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng và tiền gửi không kỳ hạn có phát hành sec. Mức cung tiền do Ngân hàng Trung ương đưa ra làm mục tiêu cố định với mọi mức lãi suất.
Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất thị trường Thu nhập thực tế Thu nhập thực tế là thu nhập danh nghĩa sau khi loại trừ các tác động của các yếu tố biến động giá. Trong nền kinh tế đang phát triển, nhu cầu chi tiêu và nắm giữ tiền của các chủ thể trong nền kinh tế tăng lên, cầu tiền tăng lên ở mọi mức lãi suất, đường cầu tiền dịch sang phải, lãi suất tăng. Sự suy thoái kinh tế 7 có tác động ngược lại, thu nhập và tài sản của người dân giảm làm cầu tiền giảm ở mọi mức lãi suất, đường cầu tiền dịch chuyển sang trái, lãi suất giảm. Mức giá cả Khi giá cả hàng hóa tăng lên, chúng ta cần một lượng tiền nhiều hơn để mua được khối lượng hàng hóa, dịch vụ như cũ.
Điều này làm cầu tiền tăng lên ở mọi mức lãi suất, đường cầu tiền dịch sang phải, lãi suất tăng. Ngược lại khi giá hàng hóa giảm làm cho đường cầu tiền dịch sang trái, lãi suất giảm. Lượng tiền cung ứng Khi có sự gia tăng cung tiền, về ngắn hạn, nếu không chịu ảnh hưởng của yếu tố lạm phát dự tính, lãi suất thị trường nhanh chóng giảm xuống; ngược lại nếu chịu tác động của yếu tố lạm phát, lãi suất thị trường có thể tăng lên. Về dài hạn, một sự tăng lượng tiền cung ứng có thể dẫn đến lãi suất thị trường tăng cao hơn hoặc có tăng nhưng vẫn thấp hơn mức lãi suất trước khi NHTW mở rộng cung tiền tùy thuộc mức độ tác động đến lãi suất của các nhân tố thu nhập, mức giá và lạm phát dự tính so với “tác dụng tính lỏng”.
Phân loại lãi suất 1. Theo giá trị thực của lãi suất Căn cứ theo giá trị thực, lãi suất được chia thành 2 loại là lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực. -Lãi suất danh nghĩa là tỷ lệ biểu thị sự gia tăng của tiền sau một thời gian nhất định (thường là 1 năm) mà chưa tính đến sự thay đổi sức mua của đồng tiền (tỷ lệ lạm phát) trong khoảng thời gian đó. -Lãi suất thực là lãi suất danh nghĩa được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát (hay nói các khác là lãi suất danh nghĩa đã trừ đi tỷ lệ lạm phát).