chương I, Luật tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa tiền gửi như sau: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.” Như vậy, các khái niệm về tiền gửi theo quy định pháp lý nêu trên có mối liên hệ mật thiết với tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. Người gửi tiền có thể lựa chọn các loại hình tiền gửi theo mục đích của họ và được hưởng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp, được hưởng lãi. Đồng thời, có nghĩa vụ để ngân hàng sử dụng các số tiền gửi đó cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với cam kết thực hiện việc hoàn trả vào ngày đáo hạn (đối với tài khoản có kỳ hạn) hoặc theo yêu cầu của khách hàng (đối với tài khoản không kỳ hạn). Ngày nay, khách hàng có nhiều cách gửi tiền và có thể làm cho tài sản bằng tiền sinh lãi theo các dự đoán và tính toán của chính họ.
Đặc điểm vốn tiền gửi Vốn tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của NHTM. Thông thường chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục ti u tăng trưởng hàng năm 3 của ngân hàng. Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của Ngân hàng. Đây là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác.
Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng. Tiền gửi là nguồn vốn không ổn định, đặc biệt là khoản tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng có thể rút tiền của họ mà không cần báo trước, không bị ràng buộc; nếu có, ngân hàng chỉ phạt bằng việc chi trả lãi thấp hơn mức cam kết với ngân hàng (đó là đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn mà trường hợp ở đây có thể khách hàng sẽ rút tiền trước hạn). Chính vì vậy, ngân hàng phải duy trì một lượng tiền dự trữ đảm bảo khả năng thanh khoản, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc.
Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. Đây là một trong những công cụ mà NHTW sử dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền, chính vì thế nên chi phí sử dụng vốn tiền gửi cao hơn so với các nguồn vốn khác. Khi huy động tiền gửi, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể sử dụng phần vốn còn lại để cấp tín dụng, đầu tư… Một mặt, ngân hàng phải trả một mức lãi suất đủ lớn để có thể thu hút và duy trì sự ổn định trong lượng tiền gửi của khách hàng. Mặt khác, ngân hàng cố gắng hạn chế việc lãi suất quá cao bởi vì điều này sẽ làm giảm mức thu nhập tiềm năng của ngân hàng.
Hiện nay, sự cạnh tranh gay gắt trong thị trường cung cấp các dịch vụ tài chính càng làm cho vấn đề nêu trên trở nên phức tạp hơn bởi vì cạnh tranh có xu hướng làm tăng chi phí trả lãi tiền gửi trong khi làm giảm thu nhập dự kiến từ hoạt động đầu tư và cho vay. Tuy nhi n, để kiềm hãm lạm phát gia tăng trong những năm gần đây, NHTW áp dụng mức lãi suất trần khiến cho mức độ hiệu quả từ biện pháp thu hút vốn tiền gửi bằng công cụ lãi suất của các NHTM cũng bị giảm, thay vào đó buộc họ phải cung cấp các tiện ích dịch vụ đi kèm để thu hút được khách hàng. Vai trò vốn tiền gửi Đối với nền kinh tế: Hoạt động huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng về quy mô. Nhờ đó, ngân hàng đã biến các khoản vốn nhàn rỗi thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trường kinh tế.
Đối với khách hàng: Việc mở tài khoản và ký gửi tiền tại ngân hàng, ngoài việc được ngân hàng cung cấp một số séc thuận tiện chi trả, còn được cung ứng một loạt dịch vụ tiện ích đa dạng về tài chính có sinh lời. Trong nền kinh tế thị trường, một công dân muốn tích lũy vốn của mình trong két sắt, hoặc mua cổ phần, trái phiếu…; các hình thức này đều chứa đựng những rủi ro hoặc ít khả năng thanh toán. Do đó, họ phải có cách lựa chọn thứ ba: gửi tiền vào ngân hàng để vừa giữ được vốn tích lũy của mình tương đối an toàn, vừa thu được một khoản lợi tức nhất định. Không những thế, trong trường hợp khách hàng gặp khó khăn về mặt tài chính, ngân hàng có thể tài trợ cho khách hàng bằng các hình thức cầm cố, chiết khấu sổ tiết kiệm, cho vay, bảo lãnh… Đối với các ngân hàng thương mại: Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng, là một khoản mục duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp phân biệt ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác.
Tiền gửi là cơ sở chính cho khoản cấp tín dụng của NHTM, là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và phát triển. Khi huy động tiền gửi, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, với phần tiền gửi còn lại ngân hàng có thể thực hiện các nghiệp vụ sinh lời như cho vay, đầu tư, cung cấp các dịch vụ thanh toán…. Khả năng huy động tiền gửi với mức lãi suất hợp lý còn là những chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả trong hoạt động quản lý ngân hàng. Ngoài ra, ngân hàng còn thu được một khoản lệ phí nhất định từ nghiệp vụ huy động tiền gửi và các dịch vụ cung ứng đi kèm.
5 Quy mô vốn tiền gửi thể hiện năng lực tài chính và uy tín của ngân hàng. Nguồn vốn huy động càng lớn càng thể hiện năng lực tài chính mạnh mẽ và sự tin tưởng của khách hàng vào ngân hàng, góp phần cũng cố vững chắc vị thế của ngân hàng trên thị trường. Các loại hình huy động vốn tiền gửi Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi là hình thức huy động vốn cổ điển và mang tính đặc thù riêng của ngân hàng thương mại, do vậy đây cũng là điểm khác biệt giữa NHTM và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Do nhu cầu và động thái gửi tiền của khách hàng rất đa dạng và khác nhau n n để thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền, NHTM phải thiết kế,cung cấp và phát triển nhiều loại hình sản phẩm tiền gửi.
Phân theo loại tiền gửi Tiền gửi bằng nội tệ Là loại tiền gửi bằng đồng Việt Nam (VNĐ) gửi vào ngân hàng và hưởng lãi suất tiền Việt Nam được quy định vào thời điểm gửi tiền. Đây là loại tiền chiếm tỷ trọng lớn trong vốn huy động tiền gửi của các NHTM Việt Nam. Tiền gửi bằng ngoại tệ Là loại tiền gửi bằng ngoại tệ gửi vào ngân hàng và hưởng lãi suất ngoại tệ gửi. Các loại ngoại tệ huy động chủ yếu là ngoại tệ mạnh như: USD, EUR, GBP… 1.
Phân theo đối tƣợng gửi tiền Tiền gửi từ dân cư Tiền gửi dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cư trong xã hội gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn, thanh toán và sinh lời. Tiền gửi của dân cư bao gồm các hình thức tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán; đây là khu vực huy động đầy tiềm năng cho ngân hàng. Vì thế, để khai thác nguồn vốn này, ngân hàng cần chủ động đa dạng hóa các hình thức huy động cũng như lãi suất hợp lý. 6 Tiền gửi từ các tổ chức kinh tế và tổ chức xã hội Đây là nguồn huy động được đánh giá rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động.
Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều lập tài khoản tiền gửi tại các NHTM. Các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng khi bán được hàng hóa, rút ra khi cần hoặc thanh toán chuyển khoản phát sinh trong nhu cầu kinh doanh của mình. Chu kỳ rút tiền của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội không giống nhau; do vậy ngân hàng có trong tay một khoản tiền lớn có thể sử dụng một cách tương đối thuận lợi. Tiền gửi từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán… Mục đích của những khoản tiền gửi này là để NHTM sử dụng các dịch vụ lẫn nhau như: thanh toán hộ, phát hành bộ chứng chỉ tiền gửi, giao dịch ngoại tệ, giúp mua bán chứng khoán, tư vấn đầu tư, cho vay hợp vốn, đồng tài trợ… Mặt khác, các ngân hàng đang có nguồn vốn dự trữ vượt yêu cầu có thể cho các ngân hàng khác vay để hưởng lãi suất.
Phân theo mục đích Tiền gửi thanh toán Tiền gửi thanh toán hay còn gọi tiền gửi không kỳ hạn là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán cho khách hàng khi họ có yêu cầu. Nhìn chung, lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp nhưng thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng những dịch vụ ngân hàng với mức chi phí thấp.