Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển huy động vốn tiền gửi khách hàng tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và mô hình đề xuất Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Tổng quan về nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi khách hàng tại NHTM 1. Khái niệm huy động tiền gửi khách hàng Theo khoản 13, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Luật sửa đổi 2017 thì huy động tiền gửi hay còn gọi là hoạt động nhận tiền gửi được định nghĩa như sau: "Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận". Nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại (NHTM). Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là NHTM chỉ được quyền sử dụng nó trong một thời gian nhất định còn quyền sở hữu nó thuộc về những người gửi tiền.
Trên phương diện chủ thể gửi tiền thì tiền gửi có thể được chia làm hai loại là tiền gửi của các tổ chức kinh tế xã hội và tiền gửi huy động trong dân cư. Phân loại tiền gửi khách hàng 1. Phân loại tiền gửi theo mục đích Theo David Cox (1997), phân loại theo mục đích tiền gửi bao gồm: - Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): Đây là khoản tiền tổ chức và cá nhân gửi vào ngân hàng. Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản và thực hiện các khoản chi trả của doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất hay tiêu dùng cá nhân chứ không nhằm mục đích hưởng lãi.
Ngân hàng có trách nhiệm phải thực hiện các khoản chi trả kịp thời, chính xác cho khách hàng trong phạm vi số dư. Loại tiền gửi thanh toán này biến động thất thường, nó là nguồn rẻ nhất mà Ngân hàng huy động được. Nó bao gồm: tài khoản giao dịch, 9 tài khoản séc… Các công cụ thanh toán của những loại này phổ biến là séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng… - Tiền gửi có kỳ hạn: Các doanh nghiệp, cơ quan, công ty, các tổ chức và cá nhân có lượng tiền dư nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định, mà chưa có nhu cầu sử dụng đến nếu để tại quỹ của cơ quan hoặc cất trữ tại nhà thì nguồn tiền này sẽ không sinh lời, do đó sẽ làm một hợp đồng tiền gửi (không phải sổ tiết kiệm) với ngân hàng trong khoảng thời gian nhất định (có kỳ hạn) có thể là một tuần, hai tuần, hoặc một hay hai tháng. Tùy vào kỳ hạn mà chủ doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cá nhân chọn để có mức lãi suất tương ứng, số tiền gửi sẽ hưởng lãi suất tương ứng với kỳ hạn đó.
- Tiền gửi tiết kiệm:Trong cộng đồng dân cư luôn có những người có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, họ gửi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền đó. Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với ngân hàng. Hiện nay tiền gửi tiết kiệm là khu vực tiềm năng đồng thời là nơi cạnh tranh. Phân loại tiền gửi theo kỳ hạn Theo Nguyễn Đăng Dờn (2013), xét theo kỳ hạn tiền gửi được phân thành: - - Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ, trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của đối tượng gửi tiền đều được ngân hàng thực hiện.
Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có sự ăn khớp giữa các khoản phải thu và phải trả của khách hàng, nên trong những lúc khoản tiền này nhàn rỗi nó trở thành nguồn tiền gửi không kỳ hạn của NHTM. Tiền gửi không kỳ hạn có đặc điểm quy mô lớn, song biến động phức tạp, thời gian sử dụng ngắn phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời vụ và ngân hàng phải chủ động trả cho khách hàng bất cứ lúc nào. Lãi suất của khoản tiền này rất 10 thấp hoặc bằng không, thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp, đây là nguồn huy động rẻ đối với ngân hàng. Mặt khác, vì là tiền gửi thanh toán nên nó luôn luôn là đối tượng của dự trữ bắt buộc và là nguồn biến động mạnh nên nhu cầu thanh khoản của tiền gửi không kỳ hạn rất cao.
Ngân hàng có thể huy động tiền gửi không kỳ hạn từ các doanh nghiệp, cá nhân bằng cách mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn cho khách hàng.Thủ tục mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng rất đơn giản. Yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong phạm vi số dư, ngoài ra ngân hàng còn có các nguồn tiền gửi từ các tổ chức tín dụng khác nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, các tổ chức tín dụng (TCTD) có thể gửi tiền tại ngân hàng tuy nhiên quy mô của nguồn này thường không lớn. Các ngân hàng có thể sử dụng loại tiền gửi thanh toán để cho vay, tuy nhiên việc cho vay phải có mức độ, phải có dự trữ, nhằm đáp ứng kịp thời, chính xác yêu cầu của khách hàng. - Tiền gửi có kỳ hạn: Trong quá trình hoạt động kinh doanh, với việc xác định được thời gian cho các khoản phải thu phải trả các doanh nghiệp, cá nhân sẽ hình thành một khoản tiền nhàn rỗi trong một khoảng thời gian xác định và các khoản tiền đó sẽ được gửi có kỳ hạn vào ngân hàng nhằm mục đích an toàn và gia tăng thu nhập.
Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của một tầng lớp dân cư chưa sử dụng cho tiêu dùng. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này, tiền gửi tiết kiệm là một hình thức huy động của tiền gửi có kỳ hạn, họ chỉ được rút tiền vào thời điểm đáo hạn hoặc yêu cầu ngân hàng cho rút trước hạn. Ngày nay, do áp lực cạnh tranh nên hầu hết các Ngân hàng đều cho phép khách hàng rút trước hạn và được hưởng lãi suất không kỳ hạn.
11 Tiền gửi tiết kiệm này có các kỳ hạn đa dạng: 1 tháng, 2 tháng, …,12 tháng và trên 12 tháng. Ngân hàng trả lãi cao thông thường theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Về phương diện huy động, theo truyền thống, người gửi tiền được cấp một sổ tiết kiệm, trên sổ này ghi tất cả các khoản tiền gửi vào, rút ra và lãi suất. Chi phí của việc huy động tiền gửi tiết kiệm thông thường cũng cao hơn chi phí của các phương thức huy động vốn khác chính vì vậy huy động nguồn vốn này sẽ có chi phí huy động lớn.
Muốn huy động nguồn tiền gửi tiết kiệm ngân hàng phải chú ý mạng lưới huy động, cung cấp các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh. Phân loại tiền gửi theo tiền tệ Theo Tô Ngọc Hưng (2001), phân theo loại tiền tệ tiền gửi bao gồm: - Tiền gửi Đồng Việt Nam (VND): Là khách hàng gửi tiền vào ngân hàng bằng VND. Trong nguồn vốn tiền gửi ngân hàng huy động được thì huy động vốn bằng VND chiếm tỷ trọng cao thông qua tất cả các hình thức huy động tiền gửi khác nhau với mục đích sử dụng khác nhau. - Tiền gửi ngoại tệ: Là khách hàng gửi tiền vào ngân hàng bằng ngoại tệ.
Số vốn huy động từ tiền gửi bằng ngoại tệ quy ra VND cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng. Mục đích huy động vốn tiền gửi bằng ngoại tệ nhằm đa dạng hóa loại tiền huy động, đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế cũng như hoạt động kinh doanh ngoại tệ của khách hàng và ngân hàng. Vai trò tiền gửi khách hàng Theo tác giả Nguyễn Minh Kiều (2009), tiền gửi khách hàng có vai trò cụ thể như sau: 1. Đối với nền kinh tế Hoạt động huy động tiền gửi khách hàng của NHTM có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ổn định lưu thông tiền tệ, góp phần ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy kinh tế phát triển.
12 Lạm phát khi mà lượng tiền lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, làm cho giá cả hàng hóa không ngừng tăng lên. Trong khi đó nếu nghiệp vụ huy động tiền gửi của NHTM hoạt động không hiệu quả thì lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội còn cao, dẫn đến nguy cơ xảy ra lạm phát. Khi các NHTM phát triển tốt huy động vốn tiền gửi không những giúp tạo ta nguồn vốn dồi dào phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh và hộ gia đình. tạo điều kiện cho nền kinh tế ngày một phát triển.
Vì thế thông qua nghiệp vụ huy động tiền gửi khách hàng để thu bớt tiền tạm thời nhàn rỗi vào NHTM, giảm lượng tiền lưu thông trên thị trường nhằm góp phần giảm lạm phát, ổn định tiền tệ và ổn định nền kinh tế. Ngoài ra khi tiền tệ được đưa gửi vào ngân hàng thay vì tích trữ sẽ giúp sinh lời, các khách hàng gửi tiền có thêm nguồn vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh cũng sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đối với Ngân hàng Thương mại Do nguồn huy động tiền gửi là nguồn vốn hết sức quan trọng, có chi phí thấp hơn các nguồn vốn khác nên luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động của các NHTM. Để mở rộng hoạt động kinh doanh thì các NHTM cần chủ động được nguồn vốn, vì vậy phát triển huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng có vai trò là tiền đề để ngân hàng có thể triển khai mở rộng các hoạt động kinh doanh.
Tiền gửi khách hàng là nguồn chủ yếu trong huy động vốn của NHTM.