Phần mở đầu, luận văn đã nêu lý do chọn đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. Từ đó, xác định phạm vi đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu và những đóng góp của luận văn giúp cho các nhà quản trị ngân hàng có thể tham khảo trong công tác mở rộng hoạt động TTQT ngày càng hiệu quả và cuối cùng là cấu trúc luận văn. Nội dung của chương này là tiền đề để thực hiện nghiên cứu ở những nội dung tiếp theo. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NHTM 1.
Tổng quan về hoạt động TTQT 1. Khái niệm TTQT TTQT là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ liên quan đến các mối quan hệ kinh tế thương mại và các mối quan hệ khác phi kinh tế giữa các cá nhân, tổ chức ở các quốc gia khác nhau. Theo Đinh Xuân Trình (1996) thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghiã vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước. Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau (Trầm Thị Xuân Hương, 2010).
TTQT là NHTM thay mặt khách hàng thanh toán theo yêu cầu của khách hàng đồng thời tư vấn, hỗ trợ bảo vệ khách hàng khi sử dụng dịch vụ TTQT tại ngân hàng để hạn chế rủi ro trong thanh khoản. Ngân hàng sử dụng một số các phương thức để phục vụ khác hàng như: Phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ. TTQT được xem là mảng nghiệp vụ mang lại tỷ suất lợi nhuận cao thông qua các phương thức thanh toán thông dụng như; séc, ủy nhiệm thu, chi, thương phiếu, lệnh chi…Ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán về hàng hóa và dịch vụ thông qua thanh toán bù trừ, chuyển khoản qua mạng lưới thanh toán điện tử trong nội bộ hệ thống ngân hàng hay khác hệ thống ngân hàng, chuyển khoản trong nước hay nước ngoài (Trần Hoàng Ngân và cộng sự, 2010). Từ các khái niệm trên tóm lại: TTQT diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch thương mại, đầu tư, hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới ngân hàng thế giới.
TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về 10 tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế thông qua quan hệ các ngân hàng của các nước liên quan. Đặc điểm TTQT Theo Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Thị Hồng Hải (2016) thanh toán quốc tế so với thanh toán nội thương, thanh toán ngoại thương có một số đặc điểm sau: - Hoạt động TTQT chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các tập quán quốc tế. Hoạt động TTQT tế liên quan đến các chủ thể ở hai hay nhiều quốc gia, do đó, các chủ thể khi tham gia vào hoạt động TTQT không những chịu sự điều chỉnh của luật quốc gia, mà còn phải tuân thủ các văn bản pháp lý quốc tế. Phòng thương mại quốc tế ban hành UCP, URC, INCOTERMS… tạo ra một khung pháp lý bình đẳng, công bằng cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế, tránh những hiểu lầm đáng tiếc xảy ra.
- Hoạt động TTQT được thực hiện phần lớn thông qua hệ thống ngân hàng. Trừ một số lượng rất nhỏ hàng hóa xuất nhập khẩu (viết tắt là XNK) được mua bán qua con đường tiểu ngạch thì hầu hết kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia được phản ánh qua doanh số thanh toán quốc tế của hệ thống ngân hàng thương mại. Trong thực tiễn, người xuất khẩu và người nhập khẩu không được phép tiến hành thanh toán trực tiếp cho nhau, mà theo luật định phải thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Việc thanh toán qua ngân hàng đảm bảo cho các khoản chi trả được thực hiện một cách an toàn, nhanh chóng và hiệu quả.
- Trong TTQT, tiền mặt hầu như không được sử dụng trực tiếp mà dùng các phương tiện thanh toán. Các phương tiện thường được sử dụng trong TTQTnhư hối phiếu, kỳ phiếu và séc thanh toán. - Trong TTQT, ít nhất một trong hai bên có liên quan đến ngoại tệ. Do việc liên quan đến ngoại tệ, nên hoạt động thanh toán quốc tế sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của tỷ giá hối đoái và vấn đề quản lý dự trữ ngoại hối của quốc gia.
11 - Ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán quốc tế chủ yếu bằng tiếng Anh. Đòi hỏi trình độ chuyên môn, công nghệ tương xứng với trình độ quốc tế. - Giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật quốc tế. Ngoài ra còn bị chị phối bởi luật pháp các nước, bị chi phối bởi chính sách ngoại thương và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán.
Vai trò TTQT 1. Đối với nền kinh tế Theo Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Thị Hồng Hải (2016) thì TTQT có vai trò đối với nền kinh tế như: - Hoạt động TTQT đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước. Về mặt quản lý của Nhà nước TTQT giúp tập trung và quản lý nguồn ngoại tệ trong nước và sử dụng ngoại tệ một cách hiệu quả, tạo điều kiện thực hiện tốt cơ chế quản lý ngoại hối của nhà nước, quản lý hiệu quả các hoạt động xuất nhập khẩu theo chính sách ngoại thương. Thực hiện tốt hoạt động TTQT giúp gia tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và qua đó góp phần tăng trưởng kinh tế.
Ngoài ra, thanh toán quốc tế còn giúp chính phủ các nước tập trung quản lý nguồn ngoại tệ hiệu quả. Tóm lại: Hoạt động TTQT đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và được thể hiện trên những mặt sau: - Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK của nền kinh tế như một tổng thể. - Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp - Thúc đẩy và mở rộng các hoạt động dịch vụ như dịch vụ hợp tác quốc tế - Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính - Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế. TTQT còn có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh XNK phát triển mở rộng quy mô và mở rộng quan hệ giao dịch với các 12 nước góp phần vào việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển (Trần Hoàng Ngân và cộng sự, 2010).
Đối với ng n hàng Trong hoạt động giao dịch thương mại quốc tế, không phải lúc nào các nhà xuất khẩu (viết tắt là NXK) và nhà nhập khẩu (viết tắt là NNK) cũng có thể thanh toán tiền hàng trực tiếp cho nhau, mà thường phải thông qua NHTM với mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu. Khi thay mặt khách hàng thực hiện dịch vụ TTQT, các ngân hàng trở thành cầu nối trung gian thanh toán giữa hai bên mua bán. Vai trò trung gian của ngân hàng trong hoạt động TTQT: + Thanh toán theo yêu cầu của khách. + Bảo vệ quyền lợi của khách trong giao dịch thanh toán.
+ Tư vấn, hướng dẫn khách các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ TTQT nhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng trong giao dịch với nước ngoài. + Tài trợ vốn cho hoạt động xuất khẩu của khách hàng một cách chủ động. Hoạt động TTQT là hoạt động sinh lời của ngân hàng; Ngày nay, TTQT là một dịch vụ rất quan trọng của ngân hàng nó đem lại nguồn thu đáng kể không những về số lượng tuyệt đối mà cả về tỷ trọng. TTQT là một mắt xích quan trọng trong việc chắp nối và thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tăng trưởng nguồn vốn huy động, đặc biệt là vốn ngoại tệ… Việc hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT có vai trò rất quan trọng đối với các ngân hàng, nó không chỉ là một dịch vụ thanh toán thuần túy mà còn là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, bổ sung, hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng.
Thông qua cung cấp dịch vụ TTQT cho khách hàng, ngân hàng thu được một khoản phí để bù đắp các chi phí và tạo ra lợi nhuận kinh doanh cần thiết. 13 Tóm lại, trong dây truyền hoạt động kinh tế đối ngoại của quốc gia, hệ thống ngân hàng tham gia và đóng vai trò trung tâm trong hầu hết các giai đoạn như: TTQT, tài trợ XNK, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương… Thanh toán giữa các nước sẽ được thực hiện thông qua ngân hàng và vai trò của ngân hàng trong TTQT chính là chất xúc tác, là cầu nối, là điều kiện đảm bảo an toàn và hiệu quả cho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời tài trợ cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh XNK. Đối với khách hàng TTQT phục vụ nhu cầu thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ XNK của doanh nghiệp. Điều quan trọng khi ký kết hợp đồng mua bán, lựa chọn phương thức thanh toán là việc trả lời hai câu hỏi: Thứ nhất, làm thế nào để NXK kiểm soát được hàng hóa cho đến khi thanh toán? Thứ hai, làm thế nào để NNK kiểm soát được tiền của mình cho đến khi nhận được hàng hóa? Giải pháp đối với với NXK là, họ sẽ kiểm soát hàng hóa thông qua việc kiểm soát chứng từ vận tải bằng việc sử dụng các phương thức thanh toán của các ngân hàng.
Giải pháp đối với NNK là, họ sẽ kiểm soát tiền thông qua việc định đoạt chứng từ vận tải bằng việc sử dụng các phương thức thanh toán của các ngân hàng. Tóm lại, NXK và NNK đều kiểm soát hàng hóa và tiền thông qua chứng từ vận tải bằng dịch vụ của ngân hàng. Từ đó cho thấy, TTQT trong ngoại thương là không thể thiếu, là cầu nối giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu với trung gian thanh toán là các NHTM. Phƣơng thức thanh toán quốc tế chủ yếu 1.