Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về rủi ro thanh khoản trong ngân hàng thương mại 1. Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản ngân hàng. Thanh khoản là khả năng biến đổi một tài sản nào đó ra tiền mặt một cách nhanh chóng, với một chi phí thấp nhất có thể.
Một cách đầy đủ hơn, dựa vào cả hai tiếp cận từ tài sản và nguồn vốn, thanh khoản là khả năng tiếp cận với tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng. Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi thành tiền nhanh. Trong khi đó, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Vào tháng 2/2000, Ban quản lý rủi ro của hội đồng Bassel về giám sát hoạt động ngân hàng (BCBS) đã đưa ra các quy định về rủi ro thanh khoản trong ngân hàng.
BCBS đã khẳng định rằng tính thanh khoản của ngân hàng được xác định là khả năng để tài trợ, cấp vốn cho sự tăng tài sản và đáp ứng được các nghĩa vụ, ràng buộc khi chúng đến hạn. Rủi ro thanh khoản là rủi ro phát sinh từ trạng thái mà NHTM không có được đủ vốn khả dụng - cung thanh khoản vào thời điểm mà NHTM cần để đáp ứng cầu thanh khoản, trạng thái này tác động xấu tới uy tín, thu nhập và khả năng thanh toán cuối cùng của NHTM. Cung và cầu thanh khoản trong kinh doanh ngân hàng Cầu về thanh khoản Cầu về thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động nghiệp vụ hàng ngày của ngân hàng, các khoản làm giảm dự trữ của ngân hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng, cầu về thanh khoản xuất hiện từ hai nguồn chính: - Khách hàng rút vốn khỏi tài khoản tiền gửi.
- Yêu cầu vay vốn từ những khách hàng chất lượng tín dụng cao. 123doc 5 Ngoài ra cầu thanh khoản còn đến từ yêu cầu về thanh toán các khoản vay phi tiền gửi, chi phí bằng tiền và thuế trong quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ, trả cổ tức bằng tiền… Cung về thanh khoản Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng. Nguồn cung quan trọng nhất đến từ hai nguồn: - Tiền gửi bổ sung của khách hàng trên tài khoản mới cũng như trên những tài khoản hiện tại. - Nguồn thanh toán nợ của khách hàng và nguồn thu từ việc bán tài sản, đặc biệt là các chứng khoán trong danh mục đầu tư của ngân hàng.
Ngoài ra cung thanh khoản cũng được tạo ra từ doanh thu bán các dịch vụ tài chính và từ hoạt động vay nợ trên thị trường tiền tệ. Những nguồn cung và cầu thanh khoản đa dạng này là yếu tố quyết định trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào và là cơ sở để ra quyết định quản trị rủi ro thanh khoản. Đánh giá trạng thái thanh khoản Trạng thái thanh khoản ròng NLP (Net liquidity position) của ngân hàng được xác định như sau: NLP = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản + Khi NLP < 0: cầu về thanh khoản của ngân hàng vượt quá cung thanh khoản. Ngân hàng phải đối phó với tình trạng thâm hụt thanh khoản, nhà quản lý phải quyết định xem vốn thanh khoản bổ sung sẽ được huy động ở đâu và vào lúc nào với chi phí hợp lý nhất.
+ Khi NLP > 0: tổng cung thanh khoản vượt quá tổng cầu thanh khoản và nhà quản lý phải xem xét việc đầu tư có hiệu quả các khoản thặng dư thanh khoản này cho tới khi chúng cần được sử dụng để đáp ứng yêu cầu thanh khoản trong tương lai. + NLP = 0: cung thanh khoản bằng với cầu thanh khoản. Tuy nhiên đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế. 123doc 6 Về mặt quản trị, thừa hay thiếu thanh khoản nhiều đều là dấu hiệu không tốt.
Thừa thanh khoản cho thấy tình trạng quản lý sử dụng vốn kém, hiệu quả sinh lời kém; thiếu thanh khoản sẽ dẫn đến tình trạng mất an toàn trong khả năng thanh toán của ngân hàng. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ hoạt động bên tài sản nợ hoặc tài sản có của ngân hàng. Nguyên nhân bên tài sản nợ: Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh bất cứ khi nào khi những người gửi tiền thực hiện rút tiền ngay lập tức. Khi những người gửi tiền rút tiền đột ngột, buộc ngân hàng phải đi vay bổ sung hoặc phải bán bớt tài sản (chuyển hóa tài sản có thành dạng tiền mặt) để đáp ứng khả năng thanh khoản.
Trong tất cả các nhóm thuộc tài sản có, thì tiền mặt có mức độ thanh khoản cao nhất, chính vì vậy, ngân hàng sử dụng tiền mặt là phương thức đầu tiên và trực tiếp để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Nhưng điều đáng tiếc là tiền mặt không mang lại thu nhập lãi suất, do đó các ngân hàng luôn có xu hướng giảm thiểu tài sản có ở dạng tiền mặt. Để thu được lãi suất, các ngân hàng phải đầu tư tiền vào các tài sản ít thanh khoản hoặc vào những tài sản có thời hạn dài. Cho dù cuối cùng thì hầu hết các tài sản khác nhau cũng có thể chuyển hóa thành tiền nhưng chi phí để chuyển hóa thành tiền ngay lập tức của các tài sản khác nhau thì rất khác nhau.
Khi phải bán một tài sản ngay lập tức thì giá của nó có thể thấp hơn rất nhiều so với trường hợp có thời gian để tìm kiếm người mua và thương lượng giá cả. Kết quả là, một số tài sản chỉ có thể chuyển hóa thành tiền ngay lập tức tại mức giá bán rất thấp (fire-sale prices), do đó có thể đe dọa đến khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng. Nguyên nhân bên tài sản có: Rủi ro thanh khoản phát sinh liên quan đến các cam kết tín dụng. Một cam kết tín dụng cho phép người vay tiến hành rút tiền vay bất cứ lúc nào trong thời hạn của nó.
Khi một cam kết tín dụng được người vay thực hiện, thì ngân hàng phải đảm bảo có đủ tiền ngay tức thời để đáp ứng nhu cầu của 123doc 7 khách hàng, nếu không ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Tương tự như bên tài sản nợ, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản bên tài sản có, ngân hàng có thể giảm số dư tiền mặt, chuyển hóa các tài sản khác thành tiền, hoặc đi vay các nguồn vốn bổ sung trên thị trường tiền tệ. Quản trị rủi ro thanh khoản 1. Khái niệm quản trị rủi ro thanh khoản QTRRTK là quá trình nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ những nguy cơ rủi ro về việc ngân hàng không thể đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nhu cầu thanh khoản cho khách hàng.
Quản trị rủi ro thanh khoản là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh khoản (khả năng chuyển thành tiền mặt) của tài sản và quản lý tốt cấu trúc danh mục của nguồn vốn. Sự cần thiết của quản trị rủi ro thanh khoản Các ngân hàng phải đối mặt với vấn đề thanh khoản hàng ngày trong hoạt động kinh doanh của mình. Vậy quản trị thanh khoản mà cốt lõi là quản trị rủi ro thanh khoản là vấn đề rất cần thiết, yêu cầu phải được thực hiện một cách thường xuyên liên tục, nó xuất phát từ những lý do cơ bản sau: Thứ nhất: Sự đánh đổi giữa thanh khoản và khả năng sinh lời. Ngân hàng càng tập trung nhiều vốn để đáp ứng yêu cầu thanh khoản thì khả năng sinh lời dự tính của nó càng thấp và ngược lại.
Như vậy, vấn đề đặt ra là các ngân hàng phải thực hiện quản trị thanh khoản để một mặt để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh nhưng mặt khác đảm bảo được khả năng sinh lời cần thiết. Thứ hai: Quản trị rủi ro thanh khoản giúp NHTM tránh hoặc giảm thiểu những hậu quả do rủi ro thanh khoản gây ra. Như vậy, việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng một cách thường xuyên và trong những trường hợp đặc biệt khẩn cấp là yêu cầu cấp thiết và là nội dung quan trọng trong công tác quản trị của ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro. Nó liên quan tới sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng và của cả hệ thống.
Ảnh hưởng của quản trị rủi ro thanh khoản đến hoạt động kinh doanh ngân hàng. Thứ nhất, do có sự đánh đổi giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng nên quản trị thanh khoản tốt sẽ làm giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh đồng thời vẫn đảm bảo được khả năng sinh lời cần thiết. Thứ hai, nếu rủi ro thanh khoản xảy ra sẽ để lại những hậu quả to lớn: Làm tăng chi phí do ngân hàng phải huy động với lãi suất cao hơn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản (mua thanh khoản trên thị trường); giảm thu nhập do ngân hàng phải bán các chứng khoán hoặc các tài sản khác với giá thấp. Hậu quả dẫn đến giảm giá trị thị trường vốn chủ sở hữu của NHTM.
Nếu thiếu vốn khả dụng kéo dài, chậm được khắc phục có thể làm mất uy tín của ngân hàng trên thị trường, gây sức ép và trở ngại cho quá trình huy động vốn và cho vay, giảm thấp khả năng sinh lời. Mức độ nghiêm trọng hơn là xảy ra hiệu ứng dây chuyền bằng hiện tượng rút tiền ồ ạt của người gửi tiền, có thể đẩy NHTM đến bờ vực phá sản và dẫn đến sụp đổ cả hệ thống ngân hàng. Thứ ba, trong trường hợp đặc biệt, rủi ro thanh khoản đẩy ngân hàng vào tình trạng mất khả năng thanh toán và đưa ngân hàng đối mặt với khả năng bị phá sản, bị bán hoặc bị sáp nhập. Hơn nữa, rủi ro thanh khoản mang tính hệ thống, có thể đe dọa đến sự ổn định cả hệ thống tài chính.
Quy trình của quản trị rủi ro thanh khoản 1.1Nhận dạng rủi ro thanh khoản Điều kiện tiên quyết để quản trị rủi ro là phải nhận dạng được rủi ro.