LỜI MỞ ĐẦU Cánh cửa hội nhập thực sự đã mở ra khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO. Cùng với đó là những cơ hội đầu tư, những thách thức to lớn trong cạnh tranh. Nền kinh tế Việt Nam cũng đang chuyển mình, tiếp tục quá trình CNH-HĐH, tạo nền tảng vững chắc để đứng vững trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này. Một nhu cầu tất yếu nảy sinh đó là phải tạo được nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển, mua sắm trang thiết bị, đào tạo nhân lực để đổi mới toàn diện.
Đây chính là cơ hội to lớn cho các Ngân Hàng Việt Nam khẳng định chỗ đứng và vai trò của mình trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới. Để thực hiện được nhiệm vụ lớn là cung cấp nguồn vốn cho đầu tư phát triển, Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam cũng như nhiều ngân hàng khác trong hệ thống đang cố gắng xây dựng một nền tảng vốn tốt nhất, đầy đủ kịp thời nhất cung cấp cho nền kinh tế. Tuy nhiên việc tài trợ vốn của các NHTM hiện nay đang gặp nhiều khó khăn do: nguồn vốn có hạn, ngoài nguồn vốn vay nước ngoài, của chính phủ, doanh nghiệp, vốn viện trợ, thì phần lớn nhu cầu vốn được đáp ứng bằng vốn tín dụng; tiếp đó là sự ràng buộc của giới hạn an toàn đối với huy động và cho vay, sự mất cân đối trong cơ cấu tín dụng theo thời hạn, theo ngành. Hiện nay ĐTT có thể được coi là biện pháp hiệu quả nhất khắc phục được khó khăn trên.
Không những vậy, mục tiêu chia sẻ rủi ro, nâng cao uy tín, gìn giữ khách hàng truyền thống và mở rộng thị trường đã thúc đẩy hoạt động ĐTT phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn. Tuy không phải là một hình thức tín dụng mới, nhưng ĐTT chỉ thực sự được chú ý đến trong vòng 5 năm trở lại đây. Và nó thực sự phát huy hiệu quả đối với các ngân hàng có truyền thống tài trợ cho các dự án lớn, Nguyễn Quỳnh Anh Lớp NH45A- Khoa NH-TC Luận văn cuối khóa -8- GVHD: TH.S Hoàng Lan Hương các công trình lớn phục vụ mục tiêu đầu tư phát triển như ngân hàng ĐT & PT Việt Nam. Trong thời gian qua, hình thức tín dụng này có mức gia tăng doanh số rất nhanh tại Sở Giao Dịch I Ngân Hàng ĐT&PT Việt Nam, đem lại nguồn thu lớn từ phí đồng tài trợ.
Được thực tập tại SGD I Ngân Hàng ĐT&PT Việt Nam là cơ hội rất tốt cho em được tìm hiểu về sản phẩm tín dụng hiệu quả này. Em muốn qua đề tài luận văn của mình tìm hiểu kỹ hơn về hoạt động đồng tài trợ, những lợi thế của sở giao dịch nơi em thực tập khi thực hiện hoạt động này, để từ đó có những giải pháp đẩy mạnh và phát triển nó. Với mục đích như vậy, em quyết định chọn đề tài “Đẩy mạnh hoạt động đồng tài trợ tại Sở Giao Dịch Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Em rất mong đề tài này sẽ cung cấp cho em những hành trang đầu tiên khi bước vào làm việc trong ngành ngân hàng- một ngành mà em đã yêu thích và theo đuổi.
Chuyên đề của em bao gồm ba chương: Chƣơng 1: Tổng quan về hoạt động đồng tài trợ của ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động đồng tài trợ của Sở Giao Dịch ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động đồng tài trợ tại Sở Giao Dịch ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam. Trong đề tài của em, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp logic được sử dụng nhiều nhất.
Hoạt động ĐTT có phạm vi rất rộng, do đó, em chọn nghiên cứu hai hình thức cấp tín dụng của ĐTT được sử dụng phổ biến nhất đó là cho vay hợp vốn và đồng bảo lãnh để đề tài nghiên cứu được sâu sắc và kỹ lưỡng hơn. Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các anh chị tại Sở Giao Dịch I Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam để chuyên đề được hoàn thiện hơn. Nguyễn Quỳnh Anh Lớp NH45A- Khoa NH-TC Luận văn cuối khóa -9- GVHD: TH.S Hoàng Lan Hương NỘI DUNG CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỒNG TÀI TRỢ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 Khái niệm và lịch sử hình thành hoạt động ĐTT.1 Khái niệm ĐTT Theo các nhà kinh tế thuộc các tổ chức tài chính quốc tế: “ĐTT là việc cho vay hoặc việc tài trợ các dự án hay các chương trình đặc biệt bằng nhiều nguồn vốn khác nhau trong đó có nguồn vốn ngân hàng” hoặc “một khoản ĐTT là một phương tiện trợ giúp tài chính do từ hai hay nhiều định chế tài chính tham gia cung cấp trên cơ sở một số những điều khoản, có sử dụng các tài liệu và văn bản chung và được quản lý bởi một đơn vị chung”. Theo tài liệu hội thảo ĐTT của Ngân Hàng Thế Giới tổ chức tại Hà Nội, năm 1998, “Đồng tài trợ là sự dàn xếp giữa một nhóm từ hai hay nhiều định chế tài chính để tài trợ vốn cho một dự án, hay một chương trình kinh tế cụ thể”.
Việc đứng ra thu xếp hoặc tham gia một khoản đồng tài trợ của các thành viên có thể từ nhiều mục tiêu khác nhau như: chia sẻ rủi ro, tiếp cận khách hàng mới, mở rộng thị trường, giữ uy tín với khách hàng… Theo điều 1 quyết định 286 /2002/QĐ-NHNN về quy chế ĐTT của các TCTD: “ĐTT là quá trình tổ chức thực hiện việc cấp tín dụng của bên đồng tài trợ với sự tham gia của hai hay nhiều TCTD do một TCTD là đầu mối cho một hoặc một phần DA, PASXKD, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống”. Như vậy, ĐTT có thể được hiểu đơn giản là nhiều định chế tài chính, với sự đại diện của một định chế tài chính được gọi là “thành viên đầu mối thu xếp”, cùng đứng ra tài trợ cho một DA. Những DA này thường là những DA trung, dài hạn, có nhu cầu vốn lớn mà bản thân một định chế tài chính không thể tài trợ toàn bộ, hoặc không muốn mạo hiểm tài trợ một Nguyễn Quỳnh Anh Lớp NH45A- Khoa NH-TC Luận văn cuối khóa -10- GVHD: TH.S Hoàng Lan Hương mình. Việc ĐTT vừa đáp ứng đủ vốn cho DA, vừa hạn chế rủi ro trong quá trình tài trợ.2 Lịch sử hình thành hoạt động đồng tài trợ Sự ra đời của hoạt động ĐTT gắn liền với sự phát triển của cách mạng công nghiệp tại các nước công nghiệp phát triển Châu Âu giai đoạn thế kỷ 17-18.
Sự phát triển kinh tế cùng với số lượng và quy mô dự án hiện đại hóa sản xuất ngày càng tăng, đòi hỏi nhu cầu vốn to lớn mà một chủ đầu tư, một doanh nghiệp hay một ngân hàng không thể đáp ứng. Song song với công nghiệp, hoạt động thương mại trong giai đoạn này cũng phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh trong kinh doanh cũng dần trở nên khốc liệt hơn, dẫn đến rủi ro trong kinh doanh ngày càng lớn. Việc đầu tư cho các dự án sản xuất kinh doanh trở nên khó khăn giữa việc duy trì, mở rộng khách hàng, thị trường với việc đảm bảo an toàn trong hoạt động. Để có thể đáp ứng được nhu cầu vốn cho sản xuất, đồng thời phân tán rủi ro, một số ngân hàng và các nhà đầu tư đã cùng phối hợp với nhau để đầu tư, tài trợ cho DA hay một PASXKD trên cơ sở thống nhất các điều kiện ràng buộc đối với bên được đầu tư, đánh dấu sự ra đời của hoạt động ĐTT.
Kết thúc đại chiến Thế Giới thứ II, 1939-1945, các nước tham chiến Châu Âu bị tàn phá nặng nề, và bước vào công cuộc phục hồi, xây dựng lại nền kinh tế. Thêm vào đó là những cuộc khủng hoảng kinh tế có tính chất chu kỳ, rủi ro, phá sản trong kinh doanh đã phát sinh nhu cầu về vốn vô cùng lớn. Trong khi đó, Chính Phủ và các ngân hàng cũng không tránh khỏi thiệt hại, họ không thể đáp ứng được đòi hỏi về vốn của nền kinh tế. Rủi ro cao cộng với thiếu vốn, khiến các NHTM rất cẩn trọng trong vấn đề xem xét cho vay và đầu tư.
Nhu cầu tập trung vốn và phân tán rủi ro đã đặt ra cho các nhà làm ngân hàng là phải thực hiện cho vay hợp vốn ĐTT. Từ Nguyễn Quỳnh Anh Lớp NH45A- Khoa NH-TC Luận văn cuối khóa -11- GVHD: TH.S Hoàng Lan Hương thập niên 60 của Thế Kỷ X, hoạt động ĐTT trở nên phát triển và phổ biến hơn trong các NHTM. Cuối những năm 60, một số khoản cho vay hợp vốn bằng đồng đôla đã được thực hiện trên thị trường Châu Âu. Khoản cho vay đầu tiên là cho một doanh nghiệp tại Hunggari với trị giá khoản vay là 15 triệu USD.
Sau đó, nhiều khoản vay tương tự cũng được thực hiện chủ yếu là trung và dài hạn với những khách hàng lớn. Lợi nhuận cao và rủi ro thấp đã tăng tính hấp dẫn cho hình thức tín dụng này. Ngày nay, ĐTT không chỉ đơn thuần là sự kết hợp cho vay nguồn vốn của nhiều ngân hàng, mà nó là sự thu xếp tài chính cho một dự án từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm: cả nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài, nguồn vốn cho vay trực tiếp của các ngân hàng, nguồn vốn ủy thác đầu tư, nguồn vốn từ quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm, bảo lãnh phát hành cổ phiếu ra thị trường… Các NHTM Nhật bản được đánh giá là những ngân hàng đi đầu trong hoạt động thu xếp nguồn vốn tài trợ cho các dự án, chương trình kinh tế. Cùng với sự phát triển đa dạng về hình thức, hoạt động ĐTT cũng có sự phong phú về quy mô của dự án đồng tài trợ.
Bên cạnh xu hướng ĐTT cho các DA có quy mô lớn để hạn chế rủi ro, các ngân hàng cũng tham gia tài trợ cho các DA có quy mô vừa, các DA có quy mô, tính chất chiến lược đối với một quốc gia, một khu vực kinh tế, đòi hỏi vốn đầu tư lớn, kinh nghiệm và khả năng thẩm định, quản lý tài chính. Với những ưu việt mang lại, có thể nói, hoạt động ĐTT đang trở thành một xu hướng phát triển trong hoạt động tài trợ vốn của các NHTM, các trung gian tài chính, và các nhà đầu tư. Ở Việt Nam, những cơ sở đầu tiên cho sự ra đời và phát triển của hoạt động đồng tài trợ đó là: Nguyễn Quỳnh Anh Lớp NH45A- Khoa NH-TC Luận văn cuối khóa -12- GVHD: TH.