chương 1- Luật các Tổ chức tín dụng (47/2010/QH12) hoạt động huy động vốn là hoạt động nhận tiền của tô chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền “gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận [21]. Do vậy, có thé hiểu: Huy động vốn là hoạt động cua ngân hàng thương mại với các công cụ khác nhau: lãi suất, chăm sóc khách hàng, quảng bá. nhằm hình thành nguồn vốn phục vụ hoạt động và phát triển của ngân hàng thương mại. Nguồn vốn huy động không thuộc sở hữu ngân hàng, nhưng ngân hang có quyên sử dụng tạm thời khoản vốn này và cho vay đối với khách hàng, các TCTD.
Đồng thời, ngân hàng phải trả lãi vay cho nguồn vốn huy động đó dưới dạng lãi tiền gửi,lãi trái phiếu, lãi kỳ phiếu.được tính trên thời gian huy động, số tiền huy động, lãi suất thỏa thuận giữa khách hàng gửi tiền và ngân hàng. Ngoài ra, ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ và đúng hạn khoản vốn huy động này. NHTM có thể huy động vốn từ các đối tượng khác nhau: Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư, các ngân hàng, các TCTD khác. Trong đó, nguồn vốn huy động của NHTM dưới hình thức bằng tiền (nội tệ va ngoại tệ), băng vàng.
11 Về tính chất nguồn vốn đi vay từ các ngân hàng và TCTD được phân tích riêng, phạm vi đề tài chỉ xem xét nguồn vốn huy động thông qua việc nhận tiền gửi từ các doanh nghiệp, cá nhân, DCTC. Vai trò của vốn Vốn có vai trò quan trọng, quyết định khả năng kinh doanh của ngân hàng Thứ nhất: Nguôn vốn là cơ sở để ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh. S (2004), Vốn là yếu tố quyết định trong việc xây dựng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của tất cả các DN, đặc biệt là NHTM. Với đặc điểm của một đơn vị KD tiền tệ, vốn vừa là phương tiện KD, vừa là đối tượng kinh doanh chủ yếu.
Vốn là thành phần không thể thiếu cho hoạt động kinh doanh của NHTM [20, tr. Bat ky doanh nghiép nao muốn hoạt động kinh doanh được đều phải có vốn, vốn phan ánh năng lực chủ yêu dé quyết định khả năng kinh doanh. Đối với Ngân hàng, vốn được coi là đầu vào sống còn, Ngân hàng không có vốn thì không thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh. Những Ngân hàng có khối lượng vốn lớn là những Ngân hàng có thế mạnh trong kinh doanh.
Chính vì thế, có thể nói: vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của Ngân hàng. Do đó, ngoài vốn điều lệ theo quy định ban đầu, thì Ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình. Thứ hai: Nguồn vốn ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô các hoạt động của Ngân hàng thương mại Vốn quyết định việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng, hoạt động bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, đầu tư hay trong hoạt động thanh toán của Ngân hàng thương mai. So với các ngân hàng nhỏ thì các ngân hàng lớn có lợi thế hơn về những khoản mục đầu tư, cho vay da dang hơn, phạm vi va khối lượng cho vay cùa các ngân hang này cũng lớn hơn.
Trong cuốn sách của Davidz Cox Z (2007) đã chỉ ra: hoạt động huy động vốn của Ngân hàng 12 có ảnh hưởng trực tiếp đến hầu hết tất cả các hoạt động kinh doanh của NHTM, bao gồm từ hoạt động tín dụng, hoạt động thanh toán đến hoạt động bảo lãnh hay kinh doanh ngoại tệ [5; tr. Nếu huy động vốn tốt, lượng cung tiền của Ngân hàng tăng, từ đó danh mục cho vay, đầu tư phong phú hơn, mức vốn cho vay lớn hơn. Ngoài ra, nguồn vốn lớn giúp Ngân hàng hoạt động kinh doanh với nhiều loại hình khác nhau như: Dịch vụ thuê mua tài chính. kinh doanh chứng khoán.
Các hình thức này giúp phân tán rủi ro, tạo thêm nguồn vốn cho Ngân hàng. đồng thời nâng cao uy tín và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh vốn lớn hay nhỏ thì chúng ta không thể coi nhẹ vai trò của tính ổn định của vốn. Một ngân hàng có lượng vốn ôn định thì sẽ dé dàng trong việc hoạch định các kế hoạch kinh doanh dé từ đó có thé đạt được kết quả kinh doanh một cách chắc chắn.
Thứ ba: Nguôn vốn giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh Ngân hàng không thé hoạt động kinh doanh tốt nếu các hoạt động nghiệp vụ hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay: vay dé cho vay, vay dé đầu tư, vay dé thanh toán. Bởi vì khi đi vay vốn để thực hiện các hoạt động, ngân hàng sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào đối tượng cho vay về thời hạn vay, số lượng vay và chi phí vay cao. Do đó có thé ngân hàng sẽ bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh. Ngược lại, ngân hàng có lượng vốn huy động đồi dào sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình, không phụ thuộc vào ai, không bi bỏ lỡ cơ hội kinh doanh.
Huy động vốn tốt còn là tiền đề vững chắc dé Ngân hàng dau tư trang thiết bi công nghệ hiện dai, thu hút nhân tài, tổ chức các chương trình tập huấn nhằm trau dồi kiến thức, trình độ, kỹ năng cho cán bộ Ngân hàng, giúp Ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động. Các nghiên cứu gần đây của Phùng Thị Lan Hương (2020), Olivier. (2021) đều tái khăng định khối lượng vốn huy động dồi dao sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng KD đa lĩnh vực 13 [21, tr. Nguồn vốn lớn cũng làm tăng kha năng hoạt động của ngân hàng như chủ động đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và tăng thu nhập, đạt mục tiêu cuối cùng của ngân hàng là an toàn và sinh lời Thứ tư: Nguồn vốn giúp ngân hàng quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của mình trên thị trường Điều kiện để xây dựng được uy tín của Ngân hàng chính là vốn của Ngân hàng.
Uy tín đó trước hết thé hiện ở kha năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng càng lớn. Mặt khác uy tín của ngân hang còn thé hiện ở khả năng cho vay và đầu tư ngân hàng (ngân hàng chỉ có thê cho vay những dự án lớn, thời hạn dài nếu như ngân hàng có vốn lớn). Điều này phụ thuộc vào hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014) nguồn vốn huy động lớn sẽ giúp ngân hàng dau tư hệ thống Chi nhánh, Phòng giao dịch hiện dai, gây dựng được lòng tin trong quần chúng [13]. Với tiềm năng vốn và khả năng huy động vốn lớn ngân hàng có thé hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng tăng, tiến hành cạnh tranh có hiệu quả, vừa giữ chữ tín vừ nâng cao thanh thế của ngân hàng trên thị trường. Bên cạnh đó, một trong những công cụ lớn nhất của vốn tự có là tạo sự uy tín trong công chúng. Ngoài ra, trong bối cảnh nên kinh tế hội nhập và cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, vốn là điều kiện không thể thiếu để các Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Mà năng lực cạnh tranh của Ngân hàng được quyết định bởi quy mô vốn, quy mô tín dụng. Theo quy luật kinh tế thị trường, những tổ chức hoạt động không hiệu quả, quy mô vốn bé tất yếu sẽ bị giải thé hoặc sáp nhập, không có chỗ đứng trên thị trường. Vốn của Ngân hàng mà lớn giúp cho Ngân hàng có kha năng tài chính đồi dao để cạnh tranh được với các Ngân hàng khác: hạ lãi suất, linh hoạt về thời hạn tín dụng, hình thức trả lãi. Các dich vụ Ngân hang sẽ ngày càng được cải tiến, phát triển và thực hiện tốt hơn.
14 Các hình thức huy động vốn của NHTM Nguồn vốn huy động không phải là nguồn vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng thương mại nhưng nó là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vốn huy động của Ngân hàng thương mại được xem là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động từ các doanh nghiệp, cá nhân, ngân hàng và các tô chức kinh tế - xã hội khác thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn và được dùng làm vốn kinh doanh. Căn cứ vào nguồn hình thành có thé phân nguồn hình thành có thé phân loại thành các nguồn vốn huy động sau: a) Huy động vốn thông qua nguồn tiễn gửi và phát hành các công cụ nợ Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu có tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốn kinh doanh của NHTM. Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rat lớn đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của ngân hàng.
NHTM huy động vốn dưới hình thức bằng tiền (nội tệ và ngoại tệ) và băng vàng được hình thành từ hai bộ phận: vốn huy động từ tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá. Huy động vốn từ tiền gửi ngày nay cũng rất đa dang dé phục vụ cho lựa chọn của khách hàng với kỳ hạn và phương thức gửi tiền khác nhau. Mỗi công cụ huy động tiền gửi mà các ngân hàng đưa ra đều có những đặc điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với mục tiêu riêng có của từng đối tượng khách hàng. Thứ nhất, tiễn gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng trên cơ sở không có sự thỏa thuận về thời hạn gửi tiền.
Chính vì thế mà khách hàng có thê rút ra bat ky lúc nào dé sử dụng và ngân hàng luôn có trách nhiệm phải thỏa mãn nhu cầu rút tiền của khách hàng. Đối với tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng chủ động gửi, rút tiền và còn được hưởng lãi. Hơn nữa khi có nhu cầu thanh toán khách hàng có thê rút ra 15 băng tiền mặt hoặc thực hiện các nghiệp vụ thu, chi thông qua việc trích chuyển giữa tài khoản này với tài khoản khác. Tuy không có sự thỏa thuận nào về thời hạn nhưng luôn có sự chênh lệch nhất định giữa thời gian và số lượng, nên trên các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn luôn có số dư.
Vậy ngân hàng có thé huy động số dư đó làm nguôn vốn cho vay.