Chương 1:Cơ sở lí luận về tín dụng và chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cỗ phần Phương Đông chỉ nhánh Nghệ An. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP Phương Đông chỉ nhánh Nghệ An. 12 CHUONG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VE TÍN DỤNG VÀ CHAT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng ngân hàng.
Khái niệm về tín dụng: Đối với mỗi nền kinh tế đều tồn tại những đơn vị, những thành phan kinh tế thực hiện quá trình sản xuất và lưu thông, trong quá trình này đã xuất hiện những nhu cầu về nguồn vốn. Do đó, yếu tố tín dụng xuất hiện như là điều hiển nhiên để làm đòn bay cho việc thúc day sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển. Trong thực tế, thuật ngữ “tín dụng” được hiểu nhiều cách khác nhau. Tín dụng theo nghĩa La tinh là Creditim, có nghĩa là sự tín nhiệm, sự tin tưởng.
Khái niệm tín dụng theo pháp luật ngân hàng Việt Nam (Khoản 20 Điều 4 Luật các tô chức tín dụng 2010) ghi nhận rằng “ Tin dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên cơ sở tin tưởng va tín nhiệm giữa bên cho vay (mượn) và bên di vay (mượn). Theo đó, bên cho vay chuyền giao một lượng vốn tiền tệ (hoặc tài sản) dé bên vay sử dụng có thời hạn. Khi đến hạn , bên vay phải có nghĩa vụ hoàn trả vôn (tài sản) ban đâu và lãi suât”. Tín dụng ngân hàng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường qua từng thời kì, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng như: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước, tín dụng thuê mua và tín dụng tiêu dùng.
Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thé. Trong các nghiệp vụ trên thì tín dụng ngân hàng là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu được thực hiện dé cung cấp phan lớn nhu cầu về vốn cho các cá nhân và doanh nghiệp trong nền kinh tế. Với lĩnh vực ngân hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng ngày càng là một nghiệp vụ không thể thiếu trong việc phát triển kinh tế trong nước và ngoài nước. Theo Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER): “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn bên kia là các cá nhân và thể nhân khác trong nên kinh tế, là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong toàn xã hội.
Nó không phải quan hệ dịch chuyền vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà 1a quan hệ dịch chuyền vốn gián tiếp thông qua một tô chức trung gian, đó là ngân hàng.” Tín 13 dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyền nhượng tam thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình dang hai bên cùng có lợi. Tin dụng ngân hàng thỏa thuận dé khách hang sử dụng một tài sản (bang tiền, tài sản hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác. Tín dụng ngân hàng có những đặc điểm mang tính đặc thù của ngành ngân hàng: Thứ nhất, Tín dụng ngân hàng dựa trên lòng tin giữa những chủ thê tham gia. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin đối với những khách hàng sử dụng vốn vay đúng với mục đích, đúng đắn và có khả năng hoàn trả lại nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn cho ngân hàng.
Thứ hai, Tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động bởi vì ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay và cho vay” Thứ ba, Khi thực hiện tín dụng khách hàng phải hoàn trả lại cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Khi đến hạn khách hàng không chỉ phải trả gốc mà phải trả thêm một phần lãi có trị số dương, như thế thì mới đem lại lợi nhuận cho ngân hàng sau quá trình quản lí khoản vay đó. Thứ tu, Tin dụng ngân hàng có độ rủi ro cao hơn so với các hoạt động khác. Đôi khi rủi ro không nằm ở bản thân khách hàng mà nó còn phụ thuộc các yếu tô từ bên ngoài như : môi trường kinh doanh, biến động của thị trường(giá cả, lãi suất, lạm phát,.) sẽ khiến cho việc trả nợ của khách hàng gặp nhiều rủi ro, khiến ngân hàng xảy ra rủi ro tín dụng.
Thứ năm, các hoạt động tín dụng ngân hàng phải đảm bảo cam kết hoản trả không điều kiện. Các hoạt động trên được diễn ra dựa trên các căn cứ pháp luật chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh,. và đảm bảo rằng bên đi vay sẽ hoàn trả các khoản vô điêu kiện cho ngân hàng khi đên hạn. Qua năm đặc điêm trên thì tín dụng ngân hàng cân đảm bảo được các nguyên tac cơ bản sau: - Muc đích của vốn vay phải là mục đích tốt, các khoản vay phải được sử dụng đúng mục đích như đã kí hợp đồng.
14 - _ Vốn vay sẽ được hoàn trả lại day đủ gốc lẫn lãi khi đến hạn như đã kí trong hợp đồng. Vai trò của tin dụng ngân hàng e Đối với bản thân ngân hàng thương mại Y Tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng. Phần thu nhập đến từ hoạt động tín dụng được hiểu là phần chênh lệch lãi suất giữa cho vay và huy động vốn cùng với một số các khoản chi phí khác mà ngân hang đưa ra. Ở các nước có thị trường vốn chưa phát triển thì hoạt động cho vay truyền thống được thực hiện nhiều nhất trong kinh doanh của ngân hàng.
Vì vậy các khoản thu nhập từ cho vay được xem như khoản thu nhập lớn nhất ảnh hưởng đến sự ton tai va phat triển của ngân hàng. Mặc dù hoạt động tín dụng mang lại nhiều lợi nhuận như thế nhưng đây là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất trong việc kinh doanh của ngân hàng. Cho nên ngân hàng rất cần trọng trong việc quản trị rủi ro tín dụng. Các hoạt động tin dụng góp phan đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng, giúp ngân hàng tìm kiếm được nhiều khách hàng và mở rộng thị trường đầu tư hơn, từ đó có thê giảm thiêu được rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng.
Thông qua hoạt động tín dụng mà ngân hàng có thé tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ nhằm phục vụ cho chính bản thân ngân hàng. Đặc biệt là các hoạt động liên quan đến huy động vốn, thông qua đó ngân hàng có thê tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ thu hộ, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ chi hộ, dịch vụ ủy thác,.và các sản phẩm liên quan như: tư vấn, bảo lãnh, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại té,. Đặc biệt là trong giai đoạn công nghệ thông tin phat triển khiến các ngân hàng ngày nâng cao dịch vụ hiện đại của mình lên lần lượt thay thế cho các sản phẩm kinh doanh truyền thống và dần coi đó là chiến lược kinh doanh nòng cốt trên thị trường. e Đối với khách hàng Trong nền kinh tế, có rất nhiều ngành nghề khác nhau, mỗi ngành nghề lại có chu kì sản xuất khác nhau nên nhu cầu về vốn của các chủ thê kinh tế cũng rất khác nhau.
Có nơi thì thừa vốn, có nơi thì thiếu vốn. Ngân hàng với tư cách là trung gian tài chính của thị trường sẽ tập trung vốn ở những nơi tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế và sẽ cho những nơi tạm thời thiếu vốn vay nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra một cách liên tục. Điều này cho thấy răng tin dụng ngân hàng là công cụ tập trung và luân chuyền vốn rất quan trọng. Ngân hàng hoạt động theo phương châm “ đi vay rồi cho vay”.
Tín dụng ngân hàng nhằm vừa đảm bảo được quá trình sản xuất kinh doanh vừa là động lực giúp đây nhanh quá trình sản 15 suất, lưu thông và phát triển hàng hóa, mở rộng sản xuất, kịp thời áp dụng các khoa học kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. e_ Đối với nén kinh tế Như đã phân tích ở trên thì tín dụng ngân hàng có vai trò luân chuyền vốn từ nơi thing dư sang nơi thâm hụt về vốn. Mọi người vay vốn ngoài mục đích dé kinh doanh ra còn nhằm mục đích tiêu dùng. Ngân hàng thương mại là tổ chức đứng ở giữa dé dam bảo việc luân chuyền vốn sẽ không bị rỗi loan, đảm bảo được tính linh hoạt của nền nên kinh tế: - Thông qua việc đầu tư vốn tín dụng vào từng ngành nghề, khu vực kinh tế trọng điểm sẽ giúp cho ngành nghề đó phát triển hơn, tạo nên cơ cấu hiện đại, hợp lý, hiệu quả.
- Tin dụng ngân hàng nhằm góp phan lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường và thúc đây quá trình giao lưu phát triển kinh tế giữa các nước. - Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn là một nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thu Thuế thu nhập và lãi ủy thác đầu tư của chính phủ. - Khi Nhà nước muốn chuyên vốn của mình đến người dân thì tin dụng ngân hàng là một công cụ hữu ích, đó là kênh truyền vốn của nhà nước nhằm xóa đói giảm nghèo, ôn định kinh tế chính trị xã hội. Ta có thé nhận thấy rang tin dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Nếu mất đi cầu nối quan trọng này thì nền kinh tế có thê bị ứ đọng lại, không linh hoạt và dòng vốn sẽ bị trì trệ. Nói tóm lại, tín dụng ngân hàng giúp thúc day tái sản xuất mở rộng tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững, có thé kiểm soát được lượng tiền lưu thông trong xã hội, giúp cho các cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh một cách có hiệu quả tiềm năng kinh tế. Phân loại về hoạt động tín dụng ngân hàng Có rất nhiều cách dé phân loại tin dụng ngân hàng tùy vào từng mục dich nghiên cứu cụ thể.