CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN TỰ CÓ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ VỐN TỰ CÓ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm vốn tự có của NHTM - Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại. - Về mặt quản lý: theo các cơ quan quản lý ngân hàng, vốn tự có của ngân hàng được chia làm hai loại: + Vốn tự có cơ bản (Vốn cấp 1): là phần vốn tự có hình thành ban đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng, đây là nguồn vốn tương đối ổn định; bao gồm: VĐL, quỹ dự trữ, dự phòng, thặng dư vốn, lợi nhuận không chia và các khỏan khác (các tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước).
+ Vốn tự có bổ sung (Vốn cấp 2): là nguồn vốn tăng thêm khi ngân hàng đi vào họat động và phụ thuộc vào nguồn vốn tự có cơ bản về quy mô và có tính ổn định thấp. Vốn tự có bổ sung bao gồm: vốn cổ phần ưu đãi có thời hạn, tín phiếu vốn, trái phiếu chuyển đổi. Theo quy định của cơ quan quản lý ngân hàng thì vốn tự có bổ sung không được vượt quá 50% vốn tự có cơ bản (Mỹ và Pháp). Ở Việt Nam, theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng: “Vốn tự có gồm giá trị thực của VĐL của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.
Theo Quy chế Basel II, vốn tự có của NHTM gồm ba loại: 2 - Vốn cấp 1 (hay vốn cốt lõi): là vốn chất lượng cao, gồm vốn trên sổ sách của cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi tích lũy không thường xuyên và các quỹ dự trữ từ những thu nhập tích lũy sau thuế. - Vốn cấp 2 (hay vốn bổ sung): là vốn có chất lượng thấp bao gồm các khoản vốn liên quan đến những điều kiện biến đổi, như dự trữ tổn thất cho vay nói chung, nợ phụ thuộc dài hạn và các cổ phần ưu đãi tích lũy hoặc tái khả dụng. - Vốn cấp 3 (được dự trù nhằm mở rộng định nghĩa vốn): gồm các khoản nợ phụ thuộc ngắn hạn được dùng để bù đắp các rủi ro thị trường. Nhìn chung, khái niệm về vốn tự có của NHTM bao hàm cả VĐL và vốn lợi nhuận không chia thuộc nguồn vốn chủ sở hữu mà ngân hàng phải tổ chức huy động và các loại vốn được hình thành thông qua kỹ thuật xác định vốn tực có an toàn theo quy chế giám sát của NHNN mà bản thân ngân hàng không thể áp đặt theo ý muốn chủ quan.
Tóm lại, vốn tự có của NHTM là phạm trù kinh tế có ý nghĩa khá rộng phản ánh tất cả các giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu nắm giữ của chủ ngân hàng dưới nhiều hình thức tài sản khác nhau có thể quy ra giá trị. Trong quá trình hoạt động, vốn tự có của NHTM được sử dụng chủ yếu để đầu tư phát triển các nghiệp vụ kinh doanh nhằm mang lại lợi ích cho các chủ sở hữu ngân hàng và đảm bảo yêu cầu an toàn cần thiết cho hoạt động kinh doanh. Đặc điểm vốn tự có của NHTM - Vốn tự có cung cấp nguồn lực cho ngân hàng hoạt động trong thời gian mới bắt đầu hoạt động, là thời gian mà ngân hàng chưa huy động được tiền gửi từ khách hàng, giúp ngân hàng chống đỡ khi rủi ro phát sinh. - Vốn tự có là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của ngân hàng, có thể sử dụng với kỳ hạn dài mà không phải hoàn trả nên nó chính là nền tảng cho sự tăng trưởng của ngân hàng.
3 - Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh (thông thường từ 10% đến 15%), tuy nhiên nó lại giữ một vai trò rất quan trọng vì nó là cơ sở để hình thành các nguồn vốn khác của ngân hàng, đồng thời tạo nên uy tín ban đầu, duy trì niềm tin của công chúng vào ngân hàng. - Vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, nó còn là yếu tố để các cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỷ lệ an toàn trong kinh doanh ngân hàng. Ngoài ra, vốn tự có được hình thành từ những nguồn vốn hợp pháp được phép lưu chuyển trên thị trường tài chính. Trong điều kiện hội nhập của nền kinh tế, vốn tự có của ngân hàng sẽ mang tính quốc tế gắn liền với môi trường cạnh tranh cao khi mà các NHTM đang mở rộng việc thu hút đầu tư thông qua thị trường tài chính bằng các công cụ tài chính đa dạng.
Chức năng cơ bản vốn tự có của NHTM Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn tự có của NHTM thực hiện ba chức năng: chức năng bảo vệ, chức năng hoạt động và chức năng điều chỉnh. Vốn tự có làm chức năng chịu trách nhiệm về tài sản đối với người gửi tiền Trước tiên các NHTM phải thể hiện được đầy đủ trách nhiệm về tài sản của người kinh doanh đối với những khoản tiền gửi nhằm tạo ra sự tin cậy và an tâm cho khách hàng. Bảo vệ quyền lợi cho những người gửi tiền thực chất cũng chính là bảo vệ sự an toàn cho ngân hàng. Khi thực hiện chức năng này, ngân hàng phải có đủ vốn tự có để bảo đảm được khả năng thanh toán trong mọi trường hợp, đồng thời ngân hàng còn phải cung cấp được một khoản vốn dự trữ đủ để duy trì được khả năng trả nợ tránh khỏi mọi sự đe dọa do thua lỗ.
Kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực hoạt động có tính nhạy cảm cao, 4 thường xuyên gắn liền với các rủi ro. Một ngân hàng vẫn có thể gánh chịu những tổn thất bất ngờ, mặc dù mọi hoạt động đang diễn ra rất tốt đẹp và đã chuẩn bị đầy đủ các biện pháp hữu hiệu để làm giảm thấp những rủi ro ở mức độ tối thiểu. Chính vì vậy trong quá trình quản trị, các ngân hàng luôn phải cân nhắc đồng thời giữa các dự kiến về lợi nhuận với các dự kiến về rủi ro. Đây cũng là lý do khiến NHTW ở các nước đều rất quan tâm đến việc thiết chế những quy định an toàn đặc biệt để giám sát chặt chẽ vốn tự có của các NHTM, nhằm tránh những ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế bảo vệ quyền lợi cho xã hội.
Nói chung khi thực hiện chức năng trách nhiệm về tài sản đối với người gửi tiền, vốn tự có của ngân hàng phải được chuẩn bị đầy đủ với tư cách là nguồn vốn thường xuyên sẵn sàng bù đắp mọi rủi ro có thể xảy ra. Một NHTM có vốn tự có lớn sẽ có một trách nhiệm tài sản lớn hơn các NHTM có vốn tự có nhỏ, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là vốn tự có lớn thì hoạt động của ngân hàng sẽ an toàn hơn. Do đó, “số vốn tự có cần có cho một NHTM không hoàn toàn chịu sự quyết định của quy mô hoạt động kinh doanh, mà chủ yếu phải gắn với mức độ mạo hiểm thực tế mà ngân hàng đã và đang chấp nhận”. Vốn tự có làm chức năng đầu tư đáp ứng các yêu cầu hoạt động kinh doanh ngân hàng Vốn tự có không chỉ được dùng làm “lá chắn” và “đệm” an toàn mà còn được dùng để đầu tư đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Khi làm chức năng đầu tư, vốn tự có của ngân hàng được sử dụng cho mục đích đầu tư vào tài sản cố định và đầu tư ngắn hạn và dài hạn để sinh lời. Tài sản cố định là điều kiện về vật chất và công nghệ có ý nghĩa quyết định đến tầm cỡ, quy mô của một ngân hàng. Khả năng hiện đại hóa tài sản cố định tùy thuộc vào ngân hàng có đủ quy mô nguồn vốn tự có cần thiết và 5 chiến lược đầu tư có được sử dụng đúng mức không. Theo Luật các TCTD, các NHTM chỉ được phép đầu tư vào tài sản cố định tối đa bằng 50% VĐL và quỹ dự trữ bổ sung VĐL.
Khi đầu tư vào tài sản ngắn hạn và dài hạn, vốn tự có của NHTM được dùng để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ,… một mặt vừa để sinh lời, mặt khác nhằm duy trì mức vốn khả dụng cho ngân hàng. Vốn tự có làm chức năng xác lập các giới hạn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng Khi thành lập hoặc phát triển các chi nhánh mới cũng như khi triển khai các hoạt động mới, các nghiệp vụ mới, hoặc khi quyết định đầu tư, cho vay, mua sắm tài sản, hay khi quyết định mua lại, sáp nhập,… để có đủ khả năng thực hiện các quyết định trên và có đủ cơ sở pháp lý để được cấp giấy phép kinh doanh, số vốn tự có của ngân hàng cũng cần thiết phải được xác định lại sao cho tương ứng với các yêu cầu thực tế có thể phát sinh. Các cơ quan giám sát ngân hàng thường quyết định số vốn tự có cần có bằng cách đưa ra các quy định giới hạn mức vốn tối thiểu cụ thể cho từng hoạt động của ngân hàng. Các giới hạn này được luật hóa bằng các tiêu chuẩn pháp lý cụ thể với hàng loạt các quy định ràng buộc có liên quan, dựa trên cơ sở phân loại mức độ rủi ro của các tài sản đầu tư, mức độ gặp khó khăn, sự khác biệt giữa các ngân hàng.
Ở nhiều quốc gia, cơ quan quản lý, giám sát ngân hàng sử dụng các quy định về tỷ lệ giới hạn vốn tự có như một công cụ vĩ mô để điều tiết hoạt động của các NHTM. Chính sự ràng buộc khắt khe này đã khiến các ngân hàng phải quan tâm nhiều hơn đến đổi mới cơ cấu danh mục đầu tư và quản lý rủi ro, đến xây dựng chiến lược khai thác và sử dụng vốn tự có sao cho có hiệu quả cao như các nguồn vốn đầu tư dài hạn khác. Tóm lại, việc thực thi đầy đủ các chức năng của vốn tự có sẽ là điều 6 kiện cần thiết để ngân hàng tạo ra một khuôn khổ lành mạnh cho công tác quản trị, giảm bớt các hành vi mạo hiểm với rủi ro.