CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG THEO BASEL II TẠI NHTM 1. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NHTM 1. Khái niệm về chất lượng tín dụng của NHTM a) Khái niệm chất lượng tín dụng Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi. Rủi ro tuy là sự bất trắc gây thiệt hại không mong đợi song lại là hiện tượng đồng hành với các hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, trong quá trình cạnh tranh.
Rủi ro xuất hiện ở những điểm yếu, kém hiệu quả, mất cân đối trong phát triển kinh tế. Rủi ro vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của những hoạt động kinh tế không có hiệu quả. Nó tạo tiền đề cho quá trình đào thải tự nhiên của các doanh nghiệp yếu kém, thúc đẩy sự chấn chỉnh, thích nghi của các doanh nghiệp, tạo xu hướng phát triển ổn định và có hiệu quả cho nền kinh tế. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì phải không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa dịch vụ.
Chất lượng hàng hóa dịch vụ là chìa khóa để nâng cao uy tín của doanh nghiệp, là công cụ giúp doanh nghiệp cạnh tranh và tồn tại trên thị trường. Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các NHTM cũng không nằm ngoài sự tác động trên. Thậm chí, hoạt động kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực đặc biệt do hàng hoá của nó là tiền tệ- loại hàng hoá có tính nhạy cảm và sức cuốn hút rất lớn; vì vậy mà rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng rất lớn và đa dạng. Tín dụng là nghiệp vụ then chốt, đóng góp mức sinh lời lớn nhất cho NH với tỷ lệ 70% tổng lợi nhuận.
Tuy nhiên phần lớn rủi ro của NH cũng đến từ hoạt động này. Chính vì thế, chất lượng tín dụng là vấn đề được các NH quan tâm hàng đầu. Tuy vậy để đưa ra một khái niệm đúng về chất lượng tín dụng không phải là dễ, bởi lẽ mỗi khái niệm đưa ra đòi hỏi phải chỉ ra nó xuất phát từ đâu trên quan điểm nào. Theo Hiệp hội tiêu chuẩn Pháp thì chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm thõa mãn những nhu cầu của người sử dụng.
Còn theo Philip Crosby- một chuyên gia hàng đầu của Mỹ về quản lý chất lượng thì “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”. Yêu cầu ở đây là yêu cầu của người tiêu dùng và nhà sản 6 xuất. Còn theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO), tròn dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là khả năng tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan” Từ các quan niệm về chất lượng trên, ta có thể đi đến các quan điểm về chất lượng tín dụng như sau: - Theo quan điểm của khách hàng: Chất lượng tín dụng là sự thoả mãn nhu cầu của họ về khoản tín dụng mà NH cung cấp trên các phương diện, lãi suất, quy mô, thời hạn, phương thức giải ngân, phương thức thu nợ. làm sao để các thủ tục được giải quyết một cách nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí hợp lý.
Nếu tất cả các yếu tố này đều đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì khoản tín dụng đó được coi là có chất lượng tốt và ngược lại. - Theo quan điểm của Ngân hàng: Cũng như bất cứ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế Ngân hàng cũng phải hoạt động kinh doanh làm sao để đem lại càng nhiều thu nhập cho chủ sở hữu thì càng tốt. Nhưng điều rất khác của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp khác là NHTM là đơn vị kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với ba nghiệp vụ cơ bản: nhận tiền gửi, cho vay, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Vì thế theo quan điểm của Ngân hàng thì chất lượng tín dụng là một thuật ngữ phản ánh mức độ an toàn và khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng.
Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi, rủi ro tín dụng phải được kiểm soát trong giới hạn cho phép, hoạt động tín dụng phải mang lại hiệu quả kinh tế cho ngân hàng, tạo điều kiện cho dịch vụ khác của ngân hàng phát triển. Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận hay mối quan hệ giữa an toàn và khả năng sinh lời là mối quan hệ biện chứng. Mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nhà đầu tư là phải cân nhắc giữa mức độ an toàn và khả năng sinh lời. Về nguyên tắc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận thì mức độ rủi ro của lĩnh vực đầu tư càng cao thì sẽ có khả năng sinh lợi càng cao và ngược lại.
- Theo quan điểm của xã hội: Thông qua các khoản tín dụng mà Ngân hàng cung cấp cho các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế, các hoạt động như tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển theo chiều sâu.sẽ được tiến hành và góp phần thúc đẩy 7 phát triển kinh tế. Như vậy đứng trên quan điểm của xã hội thì chất lượng tín dụng thể hiện ở việc tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác tiềm năng kinh tế, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và phát triển kinh tế. Như vậy, tùy vào từng đối tượng mà chất lượng tín dụng được hiểu theo các ý nghĩa khác nhau. Trong bài nghiên cứu này, “Chất lượng tín dụng được hiểu là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng, phù hợp với chính sách tín dụng, bảo đảm an toàn và mang lại hiệu quả cho ngân hàng, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội như một tổng thể”.
(Theo giáo trình Tín dụng ngân hàng của GS. Nguyễn Văn Tiến) b) Vai trò của nâng cao chất lượng tín dụng Đối với NHTM: - Chất lượng tín dụng tốt tạo hình ảnh, nâng cao uy tín cho ngân hàng. Hệ thống sản phẩm tốt góp phần tăng quy mô khách hàng, tăng trưởng tín dụng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng. - Nâng cao chất lượng tín dụng giúp tình hình tài chính của ngân hàng lành mạnh, tạo lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
- Chất lượng tín dụng làm cơ sở để xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng, giúp cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Đối với khách hàng: Khách hàng là đối tượng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ tín dụng vì nó là một nguồn tài trợ vốn quan trọng cho cá nhân và doanh nghiệp. Thông qua công tác quản lý chất lượng tín dụng, các NHTM đã giúp cho khách hàng rút ngắn thời gian thẩm định, phê duyệt khoản vay, tạo điều kiện cho khách hàng kịp thời tiếp cận các cơ hội đầu tư, kinh doanh. Trên cơ sở đánh giá chất lượng của từng khoản vay ở mỗi khách hàng, giúp khách hàng có thể thỏa thuận với ngân hàng các điều kiện vay vốn phù hợp về lãi suất, kỳ hạn, quy mô và bảo đảm tiền vay…đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng.
Đối với nền kinh tế: - Ngân hàng làm chức năng trung gian tài chính, giúp phân bổ, luân chuyển vốn linh hoạt, đồng vốn được sử dụng hiệu quả và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng 8 bền vững. Mặt khác, hoạt động chủ yếu của ngân hàng là hoạt động tín dụng, chứa đựng nhiều rủi ro, nếu không kiểm soát được sẽ ảnh hưởng tới uy tín của NH, tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp có ý nghĩa quan trọng tăng cường lòng tin của công chúng vào hệ thống tài chính. - Đảm bảo chất lượng tín dụng là cơ sở để các NHTM thực hiện tốt chức năng trung gian tài chính, thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa, tạo điều kiện phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt - Chất lượng tín dụng tốt góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế và nâng cao uy tín quốc gia.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM Bài nghiên cứu Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng (2013) được chia sẻ trên Tailieu.vn đưa ra các chỉ tiêu đo lường chất lượng tín dụng như chỉ tiêu sử dụng vốn, dư nợ, nợ quá hạn, tốc độ luân chuyển vốn, …Một chia sẻ khác trên Lamluanvan.net năm 2017 với tiêu đề Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng chỉ ra thêm được yếu tố về lợi nhuận từ hoạt động tín dụng và tỷ lệ nợ xấu. Nhưng những chỉ tiêu được đưa ra ở đây chỉ dừng lại ở việc nêu ý nghĩa mà không đề cập đến cách tính. Những thiếu sót trong các bài viết này được bổ sung tại bài đăng tải Chất lượng tín dụng và tiêu thức đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn của Nguyễn Thành Sơn trên Voer. Điểm nổi bật trong bài viết này là ngoài các nhân tố định lượng, tác giả còn kể đến các chỉ tiêu định tính bởi có rất nhiều yếu tố như quy chế, chế độ, thể lệ tín dụng, độ thỏa mãn của khách hàng, độ tín nhiệm của khách hàng… cũng thể hiện chất lượng tín dụng nhưng không thể lượng hóa được.
Tóm lại, tùy theo mục đích phân tích mà người ta đưa ra nhiều chỉ tiêu khác nhau, nhưng tổng hợp từ các nghiên cứu đã qua có thể kể ra các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng như sau: a) Chỉ tiêu định tính Khi cho vay vốn Ngân hàng phải tuân thủ 3 nguyên tăc đó là: - Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích. - Vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản - Vốn vay phải được hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn cam kết. Ba nguyên tắc tín dụng trên hình thành một quy luật nội tại của tín dụng. Trên 9 thực tế cho thấy, một khi cả ba nguyên tắc ấy, hoặc một trong ba nguyên tắc ấy bị coi nhẹ, hoặc quá nhấn mạnh nguyên tắc này xem nhẹ nguyên tăc kia sẽ dẫn đến tình trạng khách hàng mất khả năng thanh toán, phá sản, đổ bể một dự án, một doanh nghiệp, một Ngân hàng.
Khi nói đến chất lượng tín dụng chúng ta phải xem xét đến chất lượng tuân thủ nghiêm ngặt cả ba nguyên tắc trên.