Chương Ill: Giải Nắp nhằm Sale triển các hình thức tin’ dụng ‹của các. NHTM Việt nam> CHƯƠNG | NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HÌNH THỨC TÍN DỤNG CỦA | 'NGAN HANG THUONG MAI TRONG NEN KINH TE THI TRUONG T1-- NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Và các NGHIỆP VỤ CƠ BAN CUA NGAN HANG THUONG mal 1.1-NHTM VÀ ĐẶC TRUNG HOAT DONG CUA NHTM -_ 11.11 - Khái niệm về NHTM Mỗi quốc gia, thông qua Luật Ngân hàng của mình mà thường đưa ra một | định nghĩa về ngân hàng thương mại, như theo Luat Ngân hàng của Pháp, năm 1941: định nghĩa: "Được coi là Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ SỞ nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền ma ho dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu,.tín dụng hay dịch vu tài chính". Hay như Luật ngân hàng của Ấn Độ 1950, được bổ sung 1959 đã nêu: "Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Những định nghĩa theo kiểu như vậy là căn cứ vào tính chất và mục đích hoạt động _ của ngân hàng.
| | | Một số định nghĩa khác lại căn cứ vào đối tượng hoạt động của ngân hàng. Ví dụ như: Luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1230 định nghĩa: "Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại _ và các giá trị dia ốc, các phương no tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ - chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm v. | Ở Việt Nam, theo điều 20 Luật các Tổ chức tínn dụng ddo Quốc hội Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997, có nêu: “Tổ | chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này va các quy | định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng; cung ứng các dịch vụ thanh toán”f221 | Ty định nghĩa chung đó, căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động của các ngân hàng, Luật còn chỉ rõ các loại hình ngân hàng gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.| : Trong đó, đối với Ngân hàng thương mại, theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP _ban hành ngày 12/9/2000 được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là ngân | hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dung và cung ứng các dich vụ thanh toán | | | Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thác nội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ dàng nhận thấy các ngân hàng thương mại đều là những trung gian tài chính ma hoạt động chủ yếu và thường xuyên của nó là: nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn - để làm phương tiện thanh toán và sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay duới nhiều hình thức khác nhau và thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác cho chính ngân hàng.2 - Đặc trưng cơ bản hoạt động kinh doanh của NHTM: - Ngân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiên gửi: Trên thị trường tài chính các Ngân hàng thương mại là những trung gian tài chính đặc biệt hoạt động như những chiếc cầu chuyển tải những khoản tiền tiết kiệm, tích luỹ được trong nền kinh tế đến tay những người có nhu cầu chỉ tiêu và đầu tư.
Lịch sử của Ngân hàng thương mại là lịch sử kinh doanh tiền gửi. Từ chỗ làm dịch vụ nhận tiền gửi với tư cách là người thủ quỹ bảo quản tiền cho chủ sở hữu _ để nhận những khoản thù lao, trở thành những chủ thể kinh doanh tiền gửi chuyên mua:và bán quyền sử dụng vốn. : -_ Ngày nay, trong thế giới hiện đại, hoạt động của các tổ chức môi giới trên thị. trường tài chính ngày càng phát triển về số lượng và quy mô; hoạt động đa dạng, phong phú và đan xen lẫn nhau.
Người ta phân biệt Ngân hàng thương mại với các tổ chức môi giới tài chính khác là ở chỗ Ngân hàng thương mại là Ngân hàng kinh doanh tiền gửi, chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn, và cũng chính vì thế mà NHTM chủ yếu là cấp tín dụng ngắn hạn cho các tổ chức kinh tế và cá nhân có nhu cầu vốn cần bổ xung. - Hoạt động của Ngân hàng thương mại gắn bó với hệ thống lưu thông tiên tệ, hệ thang thanh toán trong và ngoài nước. | Trong khi thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ người cho vay sang người đi vay, cac Ngân hàng thương mại đã tự tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền làm phương tiện thanh toán và điều đó đưa lại kết quả là đại bộ phận tiền giao dịch trong nên kinh tế đều qua Ngân hàng. Từ đó Ngân hàng thương mại có thể cung cấp rất nhiều các dịch vụ Ngân hàng cho nền kinh tế, đồng thời hoạt động của Ngân hàng thương mại gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ; hệ thống thanh toán trong nước và có mối liên hệ quốc tế rộng rai.
- Hoạt động của các Ngân hàng thương mại luôn bi giám sát chặt chế và thường xuyên: Hoạt động của NHTM mang tính hệ thống cao và kinh doanh được thực hiện trên cơ sở “niềm tin”. Bởi vậy, nếu hệ thống NHTM hoạt động kinh doanh tốt thì hệ thống Ngân hàng thực sự là mach máu của nền kinh tế, góp phần giảm thiểu chi phí xã hội, tiết kiệm các nguồn lực và có vai trò to lớn trong việc thực hiện các chính sách kinh tế quốc gia. Ngược lại nếu các NHTM hoạt động kinh doanh không tốt thì có thể dẫn tới sự phá sản, thông thường khi đó sự đổ vỡ Ngân hàng mang tính hệ thống, lây lan và có ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống - kinh tế - chính trị và xã hội. Do đó, Ngân hàng là một trong những công cụ được nhà nước sử dụng để điều tiết vi mô nền kinh tế; đồng thời, lĩnh vực kinh doanh này luôn được giám sát chặt _ chế và thường xuyên nhằm ngăn chặn những hậu quả xấu do sự vi phạm hay hoạt động kinh doanh yếu kém của các Ngân hàng thương 1 mại gây ra.
| sẻ- Hoạt động kinh doanh của NHTM luôn tiềm ẩn rủi ro. ' Rui ro là vấn dé thường gap ở bất cứ lĩnh vực kinh doanh nào, song với tư cách là một trung gian tài chính, do các đặc điểm về đối tượng kinh doanh, về tính hệ. nên điểm đặc trưng trong lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng chính là rủi ro cao hơn bội phần so với các doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác, đồng thời _rủi ro luôn mang tính dây chuyển trong hệ thống các NHTM. Trong nền kinh tế thị trường, với sự cạnh tranh, xu hướng quốc tế hoá và hội nhập ngày càng mạnh mẽ.
Những rủi ro dẫn đến sự đổ vỡ Ngân hàng thương mại mang tính hệ thống, lây lan, dây chuyển có ảnh hưởng sâu rộng và nghiêm trọng tới đời sống - kinh tế - chính trị và xã hội không những của một quốc gia mà còn của cả khu vực và thế giới. Do đó, | một trong những mục tiêu quản trị cơ bản, có tính chất thường xuyên và lâu dài của bất kỳ một Ngân hàng thương mại nào là phải hạn chế đến mức tối đa rủi ro trong ' | hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh. a Hoat động của NHTM rất da dang và có phạm vi rộng. eet, Trong thé giới hiện dai, tinh cho đến thời điểm này thì Ngan hàng thương mai và cơ cấu hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng nhất trong thể chế tài chính của _ mỗi nước.
Hoạt động của Ngân hàng thương mại đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn, trong khi các tổ chức tài chính khác thường hoạt động trên một vài lĩnh vuc hep và theo hướng chuyên sâu.2-CÁC NGHIỆP VỤ CƠ BẢN CỦA NHTMT Ngân hàng thương mại là ngân hàng đưa hiện nhiều loại nghiệp vụ ngân hàng hơn hết trong số trung gian tài chính. Hệ thống Ngân hàng thương mại chiếm vị trí quan trọng nhất kể cả về qui mô tài sản cũng như về các sản phẩm dịch vụ cung ứng cho nền kinh tế. Hoạt động của Ngân hàng thương mại có thể phân chia thành 3 Tinh vực chủ yếu (Xem xét dưới góc độ các nghiệp vụ cấu thành lên Bảng tổng kết tài sản của ngân hàng), đó là: Các nghiệp vụ thuộc tài sản nợ (Nghiệp vụ nguồn vốn của ngân hàng), các nghiệp vụ thuộc tài sản có (Nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng) và các nghiệp vụ trung gian khác.1- Nghiệp vụ nguồn vốn của ngân hàng. he La nghiép vu tao lap va quan lý các nguồn vốn của NHTM.
Các tài sản nợ của ngân hàng bao gồm tiền gửi phát hành séc, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành giấy tờ _có giá, tiền vay từ Ngân hàng Trung ương, tiền vay từ các ngân hàng và các tổ chức. tín dụng khác, vốn của ngân hàng. _Nhu vậy, các nghiệp vụ tài sản nợ chính là nghiệp vụ thu hút tiền gửi các loại _trong khuôn khổ các nghiệp vụ ký thác và tiết kiệm, các nghiệp vụ vay ngắn hạn, phat hanh giấy tờ có giá. Dé có thể tiến hành và duy trì hoạt động mỗi ngân hàng cần phải có một số vốn tự có nhất định, vốn tự có của ngân hàng là điểm xuất phát để tổ chức hoạt động của ngân hàng đó, nó cũng được coi là cái đệm để chống lại sự phá sản của ngân hàng, bảo đảm an toàn tối thiểu cho người gửi tiền.
Do đặc thù kinh doanh của NHTM - với tư cách là một trung gian tài chính — nên von tự có của NHTM chiếm một tỉ lệ nhỏ so với tổng vốn hoạt động của Ngân hàng. - Các NHTM tạo lập von cho mình từ các nguồn Sau:. | ` Tiên gửi có thể phát séc (tiên gửi thanh toán), là các khoản tiền gửi trong các tài khoảnở một ngân hàng mà người sở hữu chúng có quyền phát hành séc cho „ những người thụ hưởng.