Chương 1: đưa ra những giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu. Nội dung này tạo cho đề tài một khung định hướng cần thiết cho các chương sau. Chương 2: nêu tổng quan lý thuyết về hành vi truyền dẫn của lãi suất thị trường tiền tệ và lãi suất bán lẻ, đồng thời giới thiệu các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về cơ chế chế truyền dẫn lãi suất. Chương 3: thảo luận về phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu, và mô hình cho nghiên cứu thực nghiệm.
Chương 4: trình bày phân tích và kết quả thực nghiệm nghiên cứu. Chương 5: tổng kết các vấn đề đã tr nh bày, đồng thời đóng góp một số giải pháp trong việc điều hành chính sách tiền tệ thông qua công cụ lãi suất. 8 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Lãi suất và sự truyền dẫn lãi suất: Lãi suất là chi phí của vốn vay hay là giá cả của tín dụng, do đó lãi suất được xác định bởi cung và cầu của thị trường vốn (Wang and Lee, 2009) 2.1 Sự truyền dẫn lãi suất theo trƣờng phái kinh tế học Keynes: Theo Mishkin (1996), chính sách tiền tệ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ổn định tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. NHTW của các nước đã theo đuổi chính sách tăng lãi suất để làm giảm sự tăng lên của lạm phát mà xuất phát từ tăng trưởng nóng của nền kinh tế.
Để thành công, các nhà làm chính sách phải đánh giá chính xác thời gian và độ trễ của chính sách. Điều này đòi hỏi phải hiểu rõ cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ. Theo Mishkin (1996), có hai kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ. Một là kênh truyền dẫn giá cả tài sản bao gồm lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cả vốn cổ phần.
Hai là kênh tín dụng bao gồm cho vay ngân hàng và bảng cân đối kế toán. Trong đó kênh truyền dẫn quan trọng nhất là kênh lãi suất, đây là kênh truyền dẫn truyền thống theo trường phái kinh tế học Keynes. Khi chính sách tiền tệ mở rộng (ví dụ tăng cung tiền) thì sẽ làm cho lãi suất thực giảm thông qua hiệu ứng thanh khoản, giảm chi phí vốn, khuyến khích đầu tư, chi tiêu và tiêu dùng. Kết quả làm tăng tổng cầu của nền kinh tế.
Khi lãi suất chính sách giảm, lãi suất thị trường ngắn hạn sẽ điều chỉnh giảm, cuối c ng tác động lên lãi suất huy động và lãi suất cho vay giảm theo. Kết quả là chi phí cơ hội của đầu tư và tiêu dùng thấp hơn, tạo điều kiện cho nhu cầu nội địa gia tăng, nền kinh tế phát triển với tốc độ cao hơn và đồng thời phải gánh chịu áp lực lạm phát. Hiệu ứng truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường, từ lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ là vấn đề được quan tâm đặc biệt trong hoạch định chính sách của NHTW, bởi đó chính là công cụ quan trọng giúp thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả. Có thể nói rằng hiệu quả của chính sách tiền tệ phụ thuộc vào mức độ và tốc độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ.2 Tính cứng nhắc của truyền dẫn lãi suất: Bernanke (1990) phân tích hiệu quả của chính sách tiền tệ và dự đoán các chu kỳ kinh doanh bằng việc sử dụng lãi suất và sự truyền dẫn trong lãi suất.
Tác giả cho rằng chính sách tiền tệ xác định tỷ lệ tăng trưởng của cung tiền. Mối quan hệ này kết hợp với sự tương tác giữa lãi suất dài hạn và ngắn hạn sẽ tác động đến đầu tư và các hoạt động kinh tế khác. Kể từ khi lãi suất thị trường tiền tệ là lãi suất rất ngắn hạn, sự thay đổi của chúng gây nên các điều chỉnh cơ cấu của lãi suất dài hạn và lãi suất ngắn hạn. Tuy nhiên, hướng và độ lớn của sự điều chỉnh này phụ thuộc vào sự tồn tại độ cứng nhắc của việc điều chỉnh, hay nói cách khác, tồn tại sự truyền dẫn không hoàn toàn và sự chậm chạp trong việc điều chỉnh của lãi suất bán lẻ khi lãi suất thị trường thay đổi.
Theo Toolsema và cộng sự (2002), nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến lãi suất bán lẻ nhằm trả lời ba câu hỏi sau: Tại sao có tồn tại tính cứng nhắc của việc điều chỉnh lãi suất? Sự tương đồng tính cứng nhắc giữa các quốc gia như thế nào? Có mối quan hệ gì giữa tính cứng nhắc, chính sách tiền tệ, cấu trúc hệ thống tài chính và cấu trúc tài chính của các định chế tài chính trung gian? Lowe và Rohling (1992) cho rằng các yếu tố gây ra sự tồn tại của tính cứng là chi phí thực đơn, chi phí điều chỉnh, chi phí chuyển đổi, và chia sẻ rủi ro. Theo lý thuyết về chi phí thực đơn, các ngân hàng sẽ không muốn thay đổi lãi suất nếu họ nhận thấy những thay đổi trong lãi suất cơ bản chỉ là tạm thời. Các chi phí điều chỉnh đi kèm với sự thay đổi lãi suất là chi phí in ấn, phân phát các ấn phẩm, tờ rơi,… Do đó, trước những thay đổi nhỏ và tạm thời của chính sách tiền tệ, ngân hàng có thể có những bước đi thận trọng nhưng sẽ thay đổi nhanh chóng trước sự thay đổi vĩnh viễn trong chính sách lãi suất. Theo giả thuyết chi phí chuyển đổi, khách hàng thường có khuynh hướng không muốn chuyển đổi các sản phẩm tài chính, các khoản đầu tư có chi phí chuyển đổi cao.
Khách hàng phải tốn rất nhiều thời gian và hao hụt một khoản tài chính đáng kể để chuyển từ việc sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng này sang sử 10 dụng của ngân hàng khác. Thông thường, khi khách hàng muốn trả nợ vay hoặc rút vốn gốc tiền gửi có kỳ hạn trước hạn, một số ngân hàng có thể tính một khoản phí phạt trả nợ trước hạn. Nếu ngân hàng định giá sản phẩm của họ dựa vào việc khai thác tâm lý của khách hàng thì họ sẽ tăng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay chậm hơn. Điều này có thể dẫn đến sự bất cân xứng trong điều chỉnh lãi suất.
Giả thuyết thị trường cạnh tranh không hoàn hảo (Hannan và Berger, 1991 và Neumark và Sharpe, 1992) cho rằng, trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, sự điều chỉnh lãi suất bán lẻ có tính cứng là bởi v quá tr nh điều chỉnh lãi suất bán lẻ là bất cân xứng. Có hai nguồn gốc cho sự bất cân xứng này, đó là: cấu kết thỏa thuận giá cả giữa các ngân hàng và phản ứng bất lợi của khách hàng có thể xảy ra tình trạng thống nhất làm giá và phản ứng bất lợi của khách hàng. Cấu kết sắp xếp giá cả giải thích tính cứng nhắc trong việc nâng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay. Ngược lại, các phản ứng bất lợi của khách hàng giải thích tính cứng nhắc trong việc giảm lãi suất tiền gửi và nâng lãi suất cho vay.
Theo giả thuyết thông tin bất cân xứng (Stiglitz và Weis, 1981), các ngân hàng phải đối mặt với hai lựa chọn trái ngược nhau khi họ được yêu cầu phải tăng lãi suất cho vay để tăng lãi suất thị trường. Dưới tác động của chi phí cơ hội, nhiều ngân hàng muốn tăng lãi suất đáng kể chỉ trong một thời gian ngắn. Lãi suất cho vay cao hơn khiến cho khả năng trả nợ vay của các doanh nghiệp khó khăn hơn bao giờ hết. Chính điều này dẫn đến nguy cơ gia tăng các khoản nợ xấu.
Trừ khi lãi suất của họ dưới mức quy định và lãi suất thị trường dự kiến duy trì ở mức cao, các ngân hàng sẽ tăng lãi suất cho vay. Thay vào đó, các ngân hàng sẽ hạn chế mở rộng tín dụng ra bên ngoài dưới áp lực tăng lãi suất. Kết quả là lãi suất cho vay sẽ khó điều chỉnh theo mô hình thông tin bất cân xứng. Sự kết hợp giữa các nhân tố trên có thể đóng vai trò khác nhau trong sự điều chỉnh lãi suất.
Trong khi chi phí chuyển đổi và chi phí đại diện là yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ điều chỉnh trong ngắn hạn thì thị trường cạnh tranh không hoàn 11 hảo và thông tin bất cân xứng là nhân tố tác động dài hạn đến tốc độ điều chỉnh lãi suất.2 Các yếu tố tác động đến cơ chế truyền dẫn lãi suất: 2.1 Tính minh bạch của chính sách tiền tệ: Minh bạch hóa là vấn đề đặc biệt quan trọng trong Tổ chức thương mại thế giới và nhất là trong điều kiện các nền kinh tế tài chính hội nhập như hiện nay. Có thể xét tính minh bạch chính sách tiền tệ theo ba tiêu chí minh bạch về mục tiêu, minh bạch về thông tin và minh bạch trong hoạt động. Minh bạch về mục tiêu: liên quan đến tính minh bạch về mục tiêu tổng thể của NHTW, thể hiện qua việc mở rộng mục tiêu chính sách, cụ thể hơn là mục tiêu hoạt động từng ngày, ví dụ như việc duy trì lãi suất tiền mặt qua đêm tại mức mục tiêu mong muốn. Các mục tiêu nhỏ trong ngắn hạn này sẽ bao gồm đặc điểm của mục tiêu lạm phát được đưa ra.
Minh bạch về thông tin: liên quan đến các thông tin mà NHTW cung cấp cho công chúng. Chủ yếu về ba nhóm thông tin sau: Một là, các dữ liệu mà NHTW dựa vào để xây dựng chiến lược nhằm đạt mục tiêu tổng thể gồm những gì? Hai là, việc sử dụng các dữ liệu này trong chiến lược tổng thể. Để minh bạch điều này, NHTW có thể phát hành định kỳ những dự báo liên quan đến các biến quan trọng của thị trường như tỷ giá hay lãi suất,… Hoặc việc đưa ra những lý do nhằm giải thích về những dự báo này cho công chúng biết. Ba, chính là câu hỏi: những dự báo này của NHTW ảnh hưởng đến lập trường của chính sách hiện hành như thế nào? Minh bạch trong hoạt động: chủ yếu được thể hiện qua sự cởi mở của NHTW trong quá trình sử dụng các công cụ của m nh để thực hiện chính sách tiền tệ.
Ví dụ, NHTW công bố cho công chúng các quyết định liên quan đến mức lãi suất mục tiêu ngắn hạn. Hay vấn đề thủ tục cách thức trong quá trình ra các quyết định về chính sách tiền tệ. Ngân hàng Trung ương có thể công khai những biên bản, hồ sơ, hay các loại giấy tờ có liên quan trong quá trình ra quyết định về chính sách tiền tệ ra công chúng. 12 Nghiên cứu về sự minh bạch của chính sách tiền tệ và sự dẫn truyền của lãi suất cho vay, Ming-Hua Liu và cộng sự.