Tổng quan luận án
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng vào thị trường khu vực và quốc tế, các doanh nghiệp trong nước đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2017, doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa chiếm tới 98,1% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam. Do đặc thù quy mô vốn hạn chế, khả năng cạnh tranh thấp, thị trường vốn chưa hoàn thiện và dòng tiền kinh doanh thiếu ổn định, các doanh nghiệp này rất dễ bị tổn thương, đối mặt với nguy cơ mất thanh khoản và rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính (KQTC).
Theo Wruck (1990), kiệt quệ tài chính xảy ra khi dòng tiền của doanh nghiệp không đủ để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính hiện tại. Khi xảy ra KQTC, doanh nghiệp chịu áp lực từ các chủ nợ và cổ đông buộc phải tiến hành tái cấu trúc (TCT) để phục hồi. Tái cấu trúc doanh nghiệp bao gồm việc sắp xếp lại các quyết định đầu tư, thay đổi cấu trúc tổ chức, nhân sự, tài sản hoặc cấu trúc vốn (Bowman và Singh, 1993). Tuy nhiên, các lý thuyết tài chính và quản trị (Pashley và Philippatos, 1990; Pastor và Veronesi, 2003; Miller và Friesen, 1984; Koh và cộng sự, 2015) chỉ ra rằng hiệu quả của các chiến lược TCT phụ thuộc vào từng giai đoạn trong chu kỳ sống của doanh nghiệp (khởi sự, tăng trưởng, bão hòa, suy thoái). Việc áp dụng sai chiến lược có thể khiến tình trạng tài chính trầm trọng hơn và dẫn đến phá sản.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận riêng lẻ từng khía cạnh: dự báo KQTC, điều chỉnh lợi nhuận hoặc tránh thuế khi KQTC (Võ Văn Nhị và Hoàng Cẩm Trang, 2013; Huỳnh Thị Cẩm Hà và cộng sự, 2016), tái cấu trúc hệ thống ngân hàng (Vũ Văn Thực, 2013; Nguyễn Quỳnh Hoa, 2014; Lê Thanh Tâm, 2014; Trần Hoàng Ngân và cộng sự, 2015; Hà Thị Thiều Dao, 2015), hoặc TCT tài sản (Sử Đình Thành và cộng sự, 2016). Trên bình diện quốc tế, nghiên cứu của Koh và cộng sự (2015) đã xem xét mối liên hệ giữa KQTC, chu kỳ sống và TCT nhưng chưa xem xét hoạt động hợp nhất và sáp nhập (M&A) như một chiến lược TCT độc lập. Do đó, luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu ảnh hưởng của KQTC đến các chiến lược TCT doanh nghiệp trong mối liên hệ với chu kỳ sống của công ty; và đánh giá khả năng phục hồi của doanh nghiệp KQTC từ các chiến lược TCT.
- Các mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của KQTC đến các chiến lược TCT của các công ty Việt Nam.
- Nghiên cứu các chiến lược TCT được doanh nghiệp KQTC sử dụng trong mối liên hệ với chu kỳ sống doanh nghiệp.
- Nghiên cứu khả năng hồi phục của các công ty KQTC từ việc sử dụng các chiến lược TCT.
Câu hỏi nghiên cứu (được đánh số theo văn bản luận án):
- KQTC có tác động đến chiến lược TCT mà công ty Việt Nam sử dụng hay không?
- Các chiến lược TCT được công ty KQTC sử dụng như thế nào trong mối liên hệ với chu kỳ sống doanh nghiệp?
- Các chiến lược TCT có mang lại hồi phục cho các công ty KQTC hay không?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của tình trạng KQTC và chu kỳ sống doanh nghiệp đến chiến lược TCT doanh nghiệp; khả năng phục hồi của doanh nghiệp sau KQTC.
- Phạm vi không gian: Các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), được phân loại theo hệ thống phân ngành ICB (Industry Classification Benchmark). Luận án loại trừ các doanh nghiệp thuộc ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, quỹ đầu tư; loại trừ nhóm ngành viễn thông do không đủ số lượng quan sát; và loại trừ các doanh nghiệp thiếu dữ liệu. Mẫu nghiên cứu chính thức bao gồm dữ liệu bảng của 526 công ty.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn thu thập và phân tích dữ liệu từ năm 2005 đến năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp hệ thống tài liệu nghiên cứu quốc tế và trong nước xoay quanh ba chủ đề trọng tâm: đo lường KQTC, lý thuyết chu kỳ sống và các chiến lược TCT doanh nghiệp.
Các hướng nghiên cứu về đo lường và xác định kiệt quệ tài chính
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới chia thành hai nhóm phương pháp chính để nhận diện tình trạng KQTC:
- Nhóm sử dụng chỉ số tài chính hoặc khoản mục kế toán cụ thể: Gilbert và cộng sự (1990), Denis và Denis (1995) xác định KQTC khi doanh nghiệp có thu nhập hoạt động âm liên tục trong 3 năm. Asquith và cộng sự (1994) xác định KQTC khi EBITDA nhỏ hơn chi phí lãi vay trong 2 năm liên tiếp hoặc EBITDA thấp hơn 80% chi phí lãi vay trong một năm. Kang và Shivdasani (1997) dùng tiêu chí tỷ số thu nhập hoạt động trên chi phí lãi vay nhỏ hơn 1. Kam và cộng sự (2008) kết hợp tiêu chí EBITDA trên chi phí lãi vay nhỏ hơn 1 hoặc chi phí lãi vay bằng 0 đi kèm EBITDA âm/bằng 0 (tương tự Andrade và Kaplan, 1998). Pindado và cộng sự (2008), Tinoco và Wilson (2013) kết hợp tiêu chí EBITDA thấp hơn chi phí tài chính liên tục trong hai năm và giá trị thị trường sụt giảm liên tiếp trong hai năm.
- Nhóm sử dụng mô hình dự báo xác suất và điểm số: Altman (1968, 1977) với mô hình chỉ số Z-score dựa trên 5 tỷ số tài chính; Ohlson (1980) với mô hình Logit O-score; Zmijewski (1984) với mô hình Probit; Merton (1974) với mô hình cấu trúc KMV dựa trên dữ liệu thị trường; Taffler (1983, 1984, 1995) với mô hình Z-score (được Sudarsanam và Lai, 2001 ứng dụng). Ngoài ra, Chou và cộng sự (2010), Chen và cộng sự (2010), Richardson và cộng sự (2015), Kim và Upneja (2014) đã ứng dụng kết hợp các mô hình kế toán và thị trường.
| Tác giả (Năm) |
Mẫu nghiên cứu & Thị trường |
Phương pháp / Tiêu chí xác định KQTC |
| Gilbert và cộng sự (1990) |
TTCK Mỹ (1974–1983) |
Thu nhập hoạt động âm liên tục trong 3 năm. |
| Denis và Denis (1995) |
29 công ty có đòn bẩy cao, TTCK Mỹ (1984–1988) |
Thu nhập hoạt động âm liên tục trong 3 năm. |
| Asquith và cộng sự (1994) |
102 công ty phát hành trái phiếu rủi ro cao, Mỹ (1976–1989) |
EBITDA < Chi phí lãi vay trong 2 năm liên tiếp, hoặc EBITDA < 80% chi phí lãi vay trong 1 năm. |
| Kang và Shivdasani (1997) |
TTCK Nhật Bản và Mỹ (1980–1987) |
Tỷ số Thu nhập hoạt động / Chi phí lãi vay < 1. |
| Kam và cộng sự (2008) |
100 công ty KQTC, Trung Quốc |
EBITDA / Chi phí lãi vay < 1; hoặc Chi phí lãi vay = 0 và EBITDA $\le$ 0. |
| Pindado và cộng sự (2008) |
Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh, Mỹ (1990–2002) |
EBITDA < Chi phí tài chính trong 2 năm liên tiếp và Giá trị thị trường giảm 2 năm liên tiếp; hoặc nộp đơn phá sản. |
| Tinoco và Wilson (2013) |
TTCK Anh (1980–2011) |
EBITDA < Chi phí tài chính trong 2 năm liên tiếp và Giá trị thị trường giảm 2 năm liên tiếp. |
| Sudarsanam và Lai (2001) |
166 công ty KQTC tại Anh |
Chỉ số Z của Taffler (1995) < 0 trong năm quan sát nhưng trước đó 2 năm liên tiếp có Z > 0. |
| Kim và Upneja (2014) |
Công ty ngành nhà hàng, Mỹ (1988–2010) |
Mô hình cây phân lớp C5.0, AdaBoost và chỉ số Zmijewski (1984) > 0. |
| Richardson và cộng sự (2015) |
TTCK Úc (2006–2010) |
Kết hợp mô hình KMV–Merton (1974), Z-score của Altman (1968) và Zmijewski (1984). |
Khảo lược lý thuyết chu kỳ sống và các chiến lược tái cấu trúc
- Lý thuyết chu kỳ sống doanh nghiệp: Tam và Gray (2016) phân loại quá trình phát triển lý thuyết này qua 4 thời kỳ: (1) Thời kỳ nền tảng (những năm 1950–1960) với Penrose (1952), Rostow (1960), Posey (1961), Lippitt và Schmidt (1967); (2) Thời kỳ kế thừa và phát triển (những năm 1970) với Greiner (1972, 1998), Mueller (1972), Lyden (1975), Adizes (1979); (3) Thời kỳ kế thừa và nâng cao (những năm 1980) với Miller và Friesen (1983, 1984), Thietart và Vivas (1984); (4) Thời kỳ tranh luận (từ 1990 đến nay) với Hanks (1990), Gupta và Chin (1993), Anthony và Ramesh (1992), Koh và cộng sự (2015). Phần lớn các công trình thống nhất mô hình 4 giai đoạn cơ bản: khởi sự, tăng trưởng, bão hòa và suy thoái.
- Các chiến lược TCT doanh nghiệp: Hofer (1980), Barker và Duhaime (1997) chia thành TCT chiến lược và TCT hoạt động. Bowman và Singh (1993) phân chia thành TCT danh mục, TCT tổ chức và TCT tài chính.
- TCT nhân sự quản lý: Gilson (1989), Hofer (1980), Kang và Shivdasani (1997), Denis và Kruse (2000), Sudarsanam và Lai (2001).
- TCT hoạt động: Cắt giảm chi phí, cắt giảm đầu tư, cắt giảm lao động (Hambrick và Schecter, 1983; Slatter, 1984; O’Neill, 1986; Koh và cộng sự, 2015).
- TCT tài sản: Thoái vốn tài sản không sinh lời hoặc đầu tư mở rộng tài sản cốt lõi (John và cộng sự, 1992; Robbins và Pearce II, 1992, 1993; Asquith và cộng sự, 1994; Brown và cộng sự, 1994; Lang và cộng sự, 1995; Denis và Kruse, 2000; Atanassov và Kim, 2009; Schendel và cộng sự, 1976).
- TCT nguồn tài trợ: TCT dựa vào vốn cổ phần (cắt giảm cổ tức, phát hành thêm cổ phần) và TCT dựa vào nợ (tái thương lượng, cơ cấu lại kỳ hạn, hoán đổi nợ) (DeAngelo và DeAngelo, 1990; Gilson, 1989, 1990; Bulan và Yan, 2009; Kam và cộng sự, 2008).
- TCT từ thương vụ M&A: Healy và cộng sự (1992), Clark và Ofek (1994), Kam và cộng sự (2008).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết
Các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây chưa tiến hành phân tích tác động của KQTC đến việc thực thi các chiến lược TCT và chưa gắn kết với lý thuyết chu kỳ sống doanh nghiệp. Trên thế giới, công trình của Koh và cộng sự (2015) trên thị trường Mỹ chưa đưa thương vụ M&A vào phân tích như một chiến lược TCT độc lập. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách: (1) Tích hợp đồng thời cả ba yếu tố: KQTC, chu kỳ sống và các chiến lược TCT tại một thị trường mới nổi (Việt Nam); (2) Bổ sung M&A như một chiến lược TCT riêng biệt; (3) Đo lường khả năng phục hồi thực tế của doanh nghiệp sau khi thực hiện các chiến lược TCT theo chu kỳ sống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng
- Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-off Theory): Modigliani và Miller (1963) lập luận rằng doanh nghiệp gia tăng giá trị thông qua tấm chắn thuế của lãi vay, nhưng việc lạm dụng nợ vay sẽ làm tăng xác suất và chi phí kiệt quệ tài chính khi thu nhập hoạt động không bù đắp được nghĩa vụ nợ.
- Bản chất và các trạng thái của KQTC: Ross và cộng sự (1999), Altman và Hotchkiss (2006) tổng hợp bốn trạng thái phản ánh khó khăn tài chính:
- Thất bại (Failure): Dòng tiền không đủ đáp ứng nghĩa vụ tài chính (Wruck, 1990) hoặc tỷ suất sinh lợi thực tế liên tục thấp hơn chi phí sử dụng vốn (Altman và Hotchkiss, 2006).
- Mất thanh khoản (Insolvency): Tồn tại dưới dạng mất thanh khoản dựa trên vốn cổ phần (stock-based: tổng nợ vượt quá giá trị tài sản, giá trị kinh tế ròng âm) hoặc mất thanh khoản dựa trên dòng tiền (flow-based / mất thanh khoản kỹ thuật: dòng tiền không đủ trả nợ đến hạn) theo Wruck (1990), Ross và cộng sự (1999, 2005); phân loại theo thời gian thành mất thanh khoản ngắn hạn và mất thanh khoản dài hạn (Shrader và Hickman, 1993).
- Vỡ nợ (Default): Bao gồm vỡ nợ kỹ thuật (vi phạm điều khoản hợp đồng tín dụng) và vỡ nợ pháp lý (không thanh toán được gốc/lãi đến hạn) theo Altman và Hotchkiss (2006).
- Phá sản (Bankruptcy): Doanh nghiệp chính thức nộp đơn xin phá sản lên tòa án. Tại Mỹ, thực hiện theo Chương 7 (thanh lý tài sản) hoặc Chương 11 (tái tổ chức dưới sự chấp thuận của tòa án và chủ nợ). Tại Việt Nam, quy định tại Điều 87 Chương 7 Luật Phá sản năm 2014 cho phép áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh trong thời hạn 30 ngày sau khi hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết.
- Lý thuyết chu kỳ sống của doanh nghiệp: Doanh nghiệp vận động qua 4 giai đoạn phát triển: khởi sự (birth), tăng trưởng (growth), bão hòa (maturity) và suy thoái (decline) (Anthony và Ramesh, 1992; Miller và Friesen, 1984; Koh và cộng sự, 2015), mỗi giai đoạn có cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, rủi ro kinh doanh và chính sách cổ tức khác nhau.
Phương pháp nghiên cứu và quy trình thực nghiệm
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên dữ liệu bảng (panel data) của 526 doanh nghiệp niêm yết (2005–2016). Kỹ thuật kinh tế lượng chính được thực hiện theo 5 bước:
- Bước 1: Xác định tình trạng KQTC của doanh nghiệp. Luận án kết hợp hai hướng tiếp cận: tiếp cận dựa trên dữ liệu sổ sách kế toán (EBITDA, chi phí lãi vay, thu nhập hoạt động) và tiếp cận dựa trên dữ liệu thị trường (sự sụt giảm giá trị vốn hóa thị trường).
- Bước 2: Xác định các giai đoạn chu kỳ sống. Phân loại doanh nghiệp vào 4 giai đoạn (khởi sự, tăng trưởng, bão hòa, suy thoái) dựa trên các biến số đặc trưng: mức chi trả cổ tức, chi tiêu vốn, tốc độ tăng trưởng doanh thu và tuổi đời doanh nghiệp (kế thừa từ Anthony và Ramesh, 1992; Koh và cộng sự, 2015).
- Bước 3: Xác định và đo lường 5 nhóm chiến lược TCT doanh nghiệp:
- TCT nhân sự quản lý: Thay đổi thành viên Hội đồng quản trị hoặc Ban điều hành cấp cao.
- TCT hoạt động: Cắt giảm hoạt động đầu tư, cắt giảm số lượng lao động, điều chỉnh giá vốn hàng bán/chi phí hoạt động.
- TCT tài sản: Thoái vốn tài sản (bán tài sản, công ty con, chi nhánh) hoặc đầu tư mới tài sản cốt lõi.
- TCT nguồn tài trợ: Cắt giảm/trì hoãn chi trả cổ tức (duy trì tài trợ nội bộ), gia tăng sử dụng nợ vay, phát hành thêm vốn cổ phần ra công chúng.
- TCT từ thương vụ M&A: Tham gia các giao dịch hợp nhất, sáp nhập, chuyển giao quyền kiểm soát.
- Bước 4: Ước lượng mô hình tác động của KQTC và chu kỳ sống lên chiến lược TCT.
Sử dụng mô hình hồi quy Logit dữ liệu bảng (Panel Logit):
- Biến phụ thuộc: Biến nhị phân đại diện cho quyết định thực hiện từng chiến lược TCT.
- Biến độc lập: Biến đại diện cho tình trạng KQTC, các biến giả đại diện cho các giai đoạn chu kỳ sống, và biến tương tác giữa KQTC với chu kỳ sống ($KQTC \times Chu kỳ sống$).
- Đánh giá câu hỏi 1 qua dấu và ý nghĩa của hệ số biến KQTC. Đánh giá câu hỏi 2 qua dấu và ý nghĩa của hệ số các biến tương tác.
- Bước 5: Ước lượng mô hình khả năng phục hồi sau KQTC.
Phân loại mẫu doanh nghiệp KQTC thành hai nhóm: hồi phục và không hồi phục.
- Biến phụ thuộc: Biến nhị phân đại diện cho trạng thái hồi phục thành công của doanh nghiệp.
- Biến độc lập: Các biến đại diện cho chiến lược TCT đã thực hiện, các giai đoạn chu kỳ sống và biến tương tác giữa chiến lược TCT với chu kỳ sống ($TCT \times Chu kỳ sống$).
- Đánh giá câu hỏi 3 qua dấu và ý nghĩa của hệ số các chiến lược TCT.
Kỹ thuật ước lượng: Sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình tác động cố định (Fixed Effects) và tác động ngẫu nhiên (Random Effects). Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy Logit với hiệu ứng tác động ngẫu nhiên (Random Effects Logit). Hệ số được ước lượng bằng phương pháp Hợp lý cực đại (Maximum Likelihood Estimation - MLE). Đồng thời, luận án áp dụng kỹ thuật ước lượng sai số chuẩn Bootstrap (Bootstrapped standard errors) để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và đảm bảo độ tin cậy, tính vững của các hệ số ước lượng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể của luận án. Tác giả trình bày bối cảnh kinh tế Việt Nam với tỷ lệ 98,1% doanh nghiệp vừa và nhỏ chịu áp lực lớn từ thị trường vốn chưa hoàn thiện và nguy cơ KQTC. Chương này nêu rõ khoảng trống học thuật về sự thiếu vắng các nghiên cứu kết hợp giữa KQTC, chu kỳ sống và các chiến lược TCT tại Việt Nam; xác định rõ 3 mục tiêu nghiên cứu và 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng; xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu gồm 526 doanh nghiệp niêm yết trên HSX và HNX từ 2005 đến 2016; giới thiệu tóm tắt phương pháp Panel Logit RE (MLE kết hợp Bootstrap), tóm lược các kết quả chính và đóng góp khoa học của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
Chương 2 thực hiện tổng quan hệ thống cơ sở lý luận và các công trình thực nghiệm. Về mặt lý thuyết, chương phân tích Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Modigliani và Miller, 1963); làm rõ 4 trạng thái khó khăn tài chính (thất bại, mất thanh khoản, vỡ nợ, phá sản theo Wruck, 1990; Altman và Hotchkiss, 2006; Luật Phá sản Việt Nam 2014); hệ thống hóa 4 thời kỳ phát triển của Lý thuyết chu kỳ sống doanh nghiệp (Penrose, 1952; Mueller, 1972; Miller và Friesen, 1984; Koh và cộng sự, 2015); và phân loại các chiến lược TCT (Hofer, 1980; Bowman và Singh, 1993). Về mặt thực nghiệm, chương tổng hợp các tiêu chí đo lường KQTC (kế toán, thị trường, mô hình Z, O-score, KMV-Merton), đồng thời phân tích chi tiết mối quan hệ giữa KQTC, chu kỳ sống và 5 chiến lược TCT: nhân sự quản lý, hoạt động, tài sản, nguồn tài trợ và M&A.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Chương 3 trình bày việc xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, thiết kế dữ liệu và mô hình thực nghiệm. Trên cơ sở tổng quan ở Chương 2, tác giả thiết lập các giả thuyết về tác động của KQTC lên từng chiến lược TCT, vai trò điều tiết của từng giai đoạn chu kỳ sống và tác động của các chiến lược TCT lên khả năng phục hồi. Chương này mô tả quy trình thu thập và làm sạch mẫu 526 công ty (loại bỏ nhóm tài chính, viễn thông và quan sát thiếu dữ liệu theo chuẩn ICB), thiết kế thang đo cho các biến số kế toán/thị trường, và xây dựng phương trình hồi quy Logit dữ liệu bảng ngẫu nhiên với phương pháp ước lượng MLE và sai số chuẩn Bootstrap qua quy trình 5 bước.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm và thảo luận kết quả:
- Phân bổ KQTC theo chu kỳ sống: KQTC xuất hiện ở mọi giai đoạn của chu kỳ sống doanh nghiệp Việt Nam, nhưng tập trung nhiều nhất ở giai đoạn bão hòa và suy thoái.
- Tác động của KQTC đến lựa chọn chiến lược TCT (Câu hỏi nghiên cứu 1): Khi rơi vào KQTC, doanh nghiệp Việt Nam gia tăng đáng kể việc thực hiện các chiến lược TCT:
- TCT nhân sự quản lý (thay đổi thành viên HĐQT, ban giám đốc).
- TCT hoạt động thông qua cắt giảm các hoạt động đầu tư và cắt giảm lao động.
- TCT tài sản (thoái vốn, thanh lý tài sản không hiệu quả).
- TCT nguồn tài trợ thông qua cắt giảm cổ tức để giữ lại nguồn vốn nội bộ, tăng cường huy động nợ vay và phát hành thêm vốn cổ phần.
- Mối liên hệ giữa chiến lược TCT của doanh nghiệp KQTC và chu kỳ sống (Câu hỏi nghiên cứu 2):
- Giai đoạn khởi sự (Birth stage): Doanh nghiệp KQTC hạn chế sử dụng phương án cắt giảm đầu tư nhằm bảo vệ cơ hội tăng trưởng ban đầu.
- Giai đoạn tăng trưởng (Growth stage): Doanh nghiệp KQTC hạn chế sử dụng phương án cắt giảm hoạt động đầu tư và ít sử dụng phương án cắt giảm chi trả cổ tức.
- Giai đoạn bão hòa (Maturity stage): Doanh nghiệp KQTC hạn chế cắt giảm lao động, giảm việc sử dụng nguồn tài trợ từ nợ và hạn chế sử dụng thỏa thuận thương vụ M&A.
- Hiệu quả phục hồi sau KQTC từ các chiến lược TCT (Câu hỏi nghiên cứu 3): Kết quả ước lượng chỉ ra rằng các chiến lược: TCT nhân sự quản lý, cắt giảm hoạt động đầu tư, TCT tài sản và cắt giảm/trì hoãn chi trả cổ tức có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến việc giúp doanh nghiệp thoát khỏi KQTC và phục hồi hoạt động. Tuy nhiên, khả năng phục hồi từ các chiến lược này ít bị tác động điều tiết bởi các giai đoạn trong chu kỳ sống.
Chương 5: Kết luận và ý kiến đề xuất
Chương 5 đúc kết toàn bộ các kết quả nghiên cứu chính từ Chương 4, đối chiếu với các mục tiêu đề ra ban đầu. Từ các bằng chứng thực nghiệm, luận án đưa ra các đề xuất và ý kiến tư vấn chính sách cho các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp Việt Nam nhằm tối ưu hóa việc lựa chọn chiến lược tái cấu trúc theo chu kỳ sống khi đối diện với KQTC. Chương này cũng trình bày các hạn chế về dữ liệu và đề xuất định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Luận án đã hệ thống hóa một cách toàn diện khung lý thuyết về mối quan hệ tương tác giữa kiệt quệ tài chính, lý thuyết chu kỳ sống doanh nghiệp và các chiến lược tái cấu trúc doanh nghiệp.
- Mở rộng mô hình nghiên cứu của Koh và cộng sự (2015) bằng việc lần đầu tiên đưa thương vụ M&A vào phân tích như một chiến lược TCT độc lập bên cạnh các chiến lược truyền thống (nhân sự, hoạt động, tài sản, nguồn tài trợ) trong mối liên hệ với chu kỳ sống.
- Kết hợp cả hai hướng tiếp cận đo lường KQTC: tiếp cận dựa trên dữ liệu kế toán và tiếp cận dựa trên dữ liệu giá trị thị trường của doanh nghiệp tại thị trường mới nổi.
Đóng góp về mặt thực tiễn và bằng chứng thực nghiệm
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm trên 526 doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2005–2016, khẳng định chu kỳ sống tồn tại ở mọi doanh nghiệp và KQTC có thể xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn nào, trong đó tần suất cao nhất rơi vào giai đoạn bão hòa và suy thoái.
- Làm rõ các phản ứng tái cấu trúc đặc thù theo từng giai đoạn vòng đời: doanh nghiệp khởi sự và tăng trưởng tránh cắt giảm đầu tư để giữ tiềm năng mở rộng; doanh nghiệp bão hòa thận trọng với việc cắt giảm nhân sự, hạn chế đòn bẩy nợ và giảm thương vụ M&A.
- Xác định 4 chiến lược có đóng góp thực chất vào sự phục hồi của doanh nghiệp KQTC tại Việt Nam: (1) TCT nhân sự quản lý; (2) Cắt giảm hoạt động đầu tư; (3) TCT tài sản; (4) Cắt giảm hoặc trì hoãn chi trả cổ tức.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất cho quản trị tài chính doanh nghiệp
- Nhà quản trị tài chính cần chủ động theo dõi các chỉ báo dòng tiền và giá trị thị trường để nhận diện sớm nguy cơ KQTC, tránh để doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất thanh khoản kỹ thuật hoặc phá sản pháp lý.
- Khi xảy ra KQTC, việc lựa chọn chiến lược TCT phải căn cứ vào giai đoạn chu kỳ sống hiện tại của doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp ở giai đoạn khởi sự và tăng trưởng không nên vội vã cắt giảm các dự án đầu tư cốt lõi vì sẽ làm triệt tiêu cơ hội cạnh tranh dài hạn.
- Doanh nghiệp ở giai đoạn bão hòa cần tránh lạm dụng nợ vay mới để bù đắp thâm hụt dòng tiền, hạn chế các thương vụ M&A phức tạp và thận trọng khi sa thải lao động quy mô lớn.
- Khi cần phục hồi nhanh chóng, doanh nghiệp nên ưu tiên cải tổ bộ máy điều hành cấp cao, kiên quyết thoái vốn khỏi các tài sản/dự án không sinh lời để thu hồi dòng tiền mặt, đồng thời thực hiện chính sách cắt giảm cổ tức nhằm giữ lại nguồn tài trợ nội bộ có chi phí thấp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Dữ liệu nghiên cứu chỉ tập trung vào các công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán HSX và HNX trong giai đoạn 2005–2016; chưa bao quát được khối doanh nghiệp chưa niêm yết và các doanh nghiệp ngoài ngành niêm yết.
- Luận án loại trừ các doanh nghiệp thuộc ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, quỹ đầu tư và ngành viễn thông (do đặc thù cấu trúc tài chính và giới hạn mẫu quan sát).
- Phạm vi nghiên cứu chưa đi sâu vào các kỹ thuật dự báo KQTC phi tham số (như mạng thần kinh nhân tạo, máy học).
- Bằng chứng thực nghiệm chưa tìm thấy tác động điều tiết rõ rệt của các giai đoạn chu kỳ sống lên mối liên hệ giữa chiến lược TCT và khả năng phục hồi sau KQTC.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Cập nhật chuỗi thời gian dữ liệu nghiên cứu sau năm 2016 để đánh giá tính ổn định của các hệ số ước lượng qua các chu kỳ kinh tế mới.
- Kết hợp thêm các yếu tố kinh tế vĩ mô và áp dụng các mô hình phi tham số để phân tích sâu hơn các cơ chế phục hồi sau tái cấu trúc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh: Cung cấp tài liệu tổng quan hệ thống về lý thuyết KQTC, lý thuyết chu kỳ sống; khung phương pháp luận nghiên cứu dữ liệu bảng với mô hình Panel Logit RE, kỹ thuật ước lượng MLE và sai số chuẩn Bootstrap.
- Nhà quản trị doanh nghiệp, Giám đốc tài chính (CFO), thành viên Hội đồng quản trị: Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực tiễn để hoạch định, lựa chọn các giải pháp tái cấu trúc thích hợp với từng giai đoạn phát triển khi doanh nghiệp đối diện khó khăn tài chính.
- Các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và nhà đầu tư: Hỗ trợ nhận diện các dấu hiệu kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp theo dữ liệu kế toán và thị trường; đánh giá tính khả thi của các phương án tái cấu trúc khi xem xét cấp tín dụng hoặc tái cơ cấu nợ.
- Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp: Cung cấp dữ liệu thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện thể chế phá sản và cơ chế phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp theo Luật Phá sản.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng phương pháp nào để xác định tình trạng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp?
Luận án kết hợp hai hướng tiếp cận: tiếp cận dựa trên dữ liệu sổ sách kế toán (sử dụng các chỉ số như EBITDA, chi phí lãi vay, thu nhập hoạt động liên tục) và tiếp cận dựa trên dữ liệu thị trường (sự sụt giảm liên tục giá trị vốn hóa thị trường của công ty trên sàn chứng khoán).
2. Kiệt quệ tài chính xuất hiện nhiều nhất ở giai đoạn nào trong chu kỳ sống của các công ty niêm yết Việt Nam?
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên 526 doanh nghiệp niêm yết cho thấy KQTC có thể xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn nào trong chu kỳ sống, nhưng tần suất xuất hiện nhiều nhất là ở giai đoạn bão hòa và giai đoạn suy thoái.
3. Những chiến lược tái cấu trúc nào có tác động tích cực thúc đẩy sự hồi phục của doanh nghiệp sau kiệt quệ tài chính?
Bốn chiến lược có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến khả năng hồi phục của doanh nghiệp KQTC tại Việt Nam gồm: (1) Tái cấu trúc nhân sự quản lý; (2) Cắt giảm các hoạt động đầu tư; (3) Tái cấu trúc tài sản (bán tài sản/danh mục không hiệu quả); và (4) Cắt giảm hoặc trì hoãn chi trả cổ tức để duy trì nguồn vốn nội bộ.
4. Hành vi tái cấu trúc của doanh nghiệp kiệt quệ tài chính tại Việt Nam có sự khác biệt như thế nào theo từng giai đoạn chu kỳ sống?
- Doanh nghiệp KQTC ở giai đoạn khởi sự: Hạn chế sử dụng phương án cắt giảm đầu tư.
- Doanh nghiệp KQTC ở giai đoạn tăng trưởng: Hạn chế sử dụng phương án cắt giảm hoạt động đầu tư và ít sử dụng phương án cắt giảm cổ tức.
- Doanh nghiệp KQTC ở giai đoạn bão hòa: Hạn chế cắt giảm lao động, giảm sử dụng nguồn tài trợ từ nợ vay và hạn chế thực hiện các thương vụ M&A.
5. Mẫu nghiên cứu và kỹ thuật kinh tế lượng chính được sử dụng trong luận án là gì?
Mẫu nghiên cứu gồm dữ liệu bảng của 526 công ty phi tài chính niêm yết trên HSX và HNX từ năm 2005 đến 2016. Luận án sử dụng mô hình hồi quy Logit dữ liệu bảng với hiệu ứng tác động ngẫu nhiên (Random Effects Logit) được kiểm định qua Hausman test, ước lượng bằng phương pháp Hợp lý cực đại (MLE) và xử lý sai số chuẩn bằng phương pháp Bootstrap (Bootstrapped standard errors).
Kết luận
Luận án đã giải quyết toàn diện các mục tiêu nghiên cứu thông qua việc phân tích thực nghiệm tác động của kiệt quệ tài chính đến các chiến lược tái cấu trúc doanh nghiệp trong mối liên hệ với chu kỳ sống trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2005–2016. Kết quả nghiên cứu khẳng định KQTC thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện các chiến lược tái cấu trúc nhân sự, hoạt động, tài sản và nguồn tài trợ, đồng thời các quyết định này có sự khác biệt rõ rệt giữa các giai đoạn khởi sự, tăng trưởng và bão hòa. Luận án đã xác định được 4 chiến lược tái cấu trúc cốt lõi mang lại khả năng hồi phục cho doanh nghiệp, đóng góp nguồn bằng chứng thực nghiệm quan trọng hỗ trợ các nhà quản trị tài chính nâng cao chất lượng điều hành và ứng phó với rủi ro tài chính.