Chương 1: Các vấn đề cơ bản về tác động của lãi suất đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Chương 2: Thực trạng tác động của lãi suất đến hoạt động tín dụng của NHTM Việt Nam. Chương 3: Đề xuất những giải pháp hoàn thiện cơ chế tác động của lãi suất đến hoạt động tín dụng của NHTM Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM 1.
Khái niệm Các nhà kinh tế có nhiều định nghĩa khác nhau về lãi suất. Một số quan đi m về lãi suất như sau: Theo lý thuyết của J.Keynes: Lãi suất không phải là số tiền trả cho việc tiết kiệm hay hạn chế chi tiêu vì khi dự trữ tiền mặt thậm chí dự trữ rất nhiều thì người ta cũng không nhận được một khoản lợi ích nào trong khoảng thời gian nào đó. Vì vậy, lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho “sở thích chi tiêu cơ bản”. Lãi suất do đó còn được gọi là công trả cho sự chia ly với tiền tệ.
Như vậy, lượng tiền trong lưu thông sẽ phụ thuộc rất nhiều vào lãi suất. Lãi suất cao/thấp sẽ kích thích người dân sẽ gửi tiền nhiều/ ít hơn dẫn đến lượng tiền trong lưu thông giảm/ tăng vì lúc đó chi phí cơ hội cho việc giữ tiền tăng lên/ giảm xuống. Điều đó đồng nghĩa lãi suất quyết định việc người dân sẽ sử dụng tiền nhiều hay không cho việc chi tiêu hay đầu tư vào mục đích khác có khả năng sinh lời lớn hơn. Theo lý thuyết của C.Mac: Ông nghiên cứu về nguồn gốc và bản chất của lãi suất trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, ông rút ra các kết luận rất có giá trị.
Ông cho rằng giá trị do lao động không công của công nhân làm thuê tạo ra và là nguồn gốc của mọi loại lãi suất. Đây chính là giá trị thặng dư. Khi xã hội phát tri n thì quyền sở hữu tư bản tách rời quyền sử dụng tư bản. Nhưng mục đích của tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư thì không đổi.
Vì vậy, trong xã hội phát sinh mối quan hệ đi vay và cho vay, đã là tư bản thì sau một khoảng thời gian tư bản cho vay được hoàn trả lại cho chủ sở hữu của nó kèm theo giá trị tăng thêm và ông gọi nó là lợi tức.Về thực chất lợi tức ch là một bộ phận của giá trị thặng dư mà nhà tư bản đi vay trả cho nhà tư bản cho vay. Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cùng với tín dụng, sự tồn tại và tác động của nó đã do mục đích khác quyết định, đó là mục đích thoả mãn đầy đủ nhất các yêu 5 cầu của tất cả các thành viên trong xã hội. Lãi suất không ch là động lực của tín dụng đối với nền kinh tế mà phải bám sát các mục tiêu kinh tế. Theo lý thuyết của Samuelson: Lãi suất là giá mà người đi vay phải trả cho người cho vay đ sử dụng một số tiền trong một khoảng thời gian nhất định, nó chính là giá của mua bán quyền sử dụng tiền tệ trong một thời gian xác định.
Theo lý thuyết của Marshall: Lãi suất là giá phải trả cho việc phải sử dụng vốn trên một thị trường bất kỳ. Qua các định nghĩa trên ta có th đưa ra khái niệm về lãi suất như sau: Lãi suất là t lệ % giữa khoản tiền người đi vay phải trả thêm cho người cho vay trên tổng số tiền vay sau một thời hạn nhất định đ được sử dụng khoản tiền đó. Hay lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó, đó là lợi tức mà người cho vay có được đối việc trì hoãn chi tiêu. Lãi suất thường được th hiện như một t lệ phần trăm của tiền gốc trong một khoảng thời gian một năm, dùng đ tính tiền lãi trong các quan hệ tín dụng.
Vai trò của lãi suất NHTM với hai nghiệp vụ chính trong kinh doanh là huy động vốn và sử dụng vốn. Theo đó NHTM huy động vốn nhàn rỗi từ các doanh nghiệp và dân cư đ cho vay các chủ th có nhu cầu sử dụng trong nền kinh tế. Đ huy động vốn và sử dụng vốn hợp lý có hiệu quả, NHTM phải xác định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay một cách hợp lý. Nếu lãi suất tiền gửi thấp không khuyến khích các doanh nghiệp và dân cư gửi tiền vào, dẫn đến NHTM không đủ vốn cấp tín dụng cho khách hàng.
Lãi suất là nhân tố quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM và khách hàng. Nếu lãi suất cho vay hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa và ngược lại. Bởi vậy, lãi suất vừa là công cụ quản lý vĩ mô của NHTW vừa là công cụ điều tiết hành vi của các NHTM. Lãi suất là công cụ của CSTT của mỗi quốc gia, nó do NHTW – cơ quan thay mặt Nhà Nước thực thi CSTT - nắm giữ và sử dụng nhằm điều ch nh, can thiệp vào thị trường giúp hạn chế, khắc phục những yếu kém của nền kinh tế.
Điều hành lãi suất của NHTW Chính sách lãi suất là một bộ phận trong CSTT của quốc gia nhằm điều tiết lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hướng hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế. Các NHTM ấn định lãi suất kinh doanh (huy động vốn và cho vay) dựa trên cơ chế điều hành lãi suất của NHTW, xu hướng cung – cầu vốn thị trường, lạm phát, mức độ rủi ro và lãi suất thị trường quốc tế. Tùy vào mục tiêu của CSTT, NHTW sẽ áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp với từng thời kỳ nhằm ổn định, phát tri n thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM và sự phân bổ các nguồn vốn trong nền kinh tế. Các mục tiêu lãi suất là một công cụ quan trọng của CSTT và được tính tới khi xử lý các biến số như đầu tư, lạm phát và thất nghiệp.
Sự thay đổi trong chính sách lãi suất sẽ tác động đến lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay, tiếp theo nó tác động đến tiết kiệm và đầu tư. Tiết kiệm và đầu tư lại tác động đến tăng trưởng kinh tế và các biến vĩ mô khác (Rauning and Scharler, 2009). Vấn đề sử dụng lãi suất như thế nào đ NHTW đạt được mục tiêu chính sách của mình có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong quá trình điều hành, NHTW dùng nhiều loại lãi suất khác nhau, có các lãi suất như sau Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHTW công bố làm cơ sở cho các TCTD làm cơ sở đ ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình.
Mỗi quốc gia có các quy định khác nhau về lãi suất cơ bản. Ở Nhật, lãi suất cơ bản là lãi suất do NHTW Nhật quy định, đó là mức lãi suất cho vay thấp nhất. Ở Anh, Úc, lãi suất cơ bản do các ngân hàng tự xác định, đó là lãi suất ứng với mức rủi ro thấp nhất áp dụng cho các khách hàng. Ở Singapore, lãi suất cơ bản là lãi suất liên ngân hàng.
Ở Việt Nam, ngày 02/08/2000, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ban hành quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN1 về việc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vay đối với các TCTD đối với khách hàng, văn bản này có hiệu lực k từ ngày 05/08/2000. Lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng trên cơ sở lãi suất cơ bản do NHNN công bố theo nguyên tắc lãi suất cho vay không vượt quá lãi 7 suất cơ bản và biên độ do thống đốc NHNN quy định từng thời kỳ. NHNN công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức lãi suất các NHTM cho vay đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các NHTM được lựa chọn theo quyết định của thống đốc trong từng thời kỳ. Lãi suất và biên độ giao động điều được NHNN công bố định kỳ hàng tháng (trường hợp cần thiết NHNN sẽ công bố ch nh kịp thời).
Đối với cho vay bằng ngoại tệ, NHNN sẽ công bố dựa trên vào lãi trên thị trường liên ngân hàng Singapore, lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn trong nước đối với từng loại ngoại tệ. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất áp dụng khi NHTW tái cấp vốn cho các NHTM dưới hình thức chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của NHTM. Lãi suất này do NHTW ấn định căn cứ vào mục tiêu của CSTT trong từng thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ. Lãi suất là công cụ có ý nghĩa khi thực hiện CSTT, NHTW sẽ căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế đ quy định một số ch tiêu lãi suất áp dụng trong toàn hệ thống ngân hàng.
Khi nền kinh tế phát tri n cả chiều sâu lẫn chiều rộng, NHTW chuy n sang điều hành lãi suất một cách gián tiếp, mang yếu tố kinh tế. Lãi suất tái chiết khấu có tác động và có ý nghĩa hướng dẫn lãi suất thị trường một cách gián tiếp, tức là tác động đến lãi suất kinh doanh của các TCTD. Lãi suất tái chiết khấu chủ yếu ảnh hưởng đến cung ứng tiền tệ bằng cách ảnh hưởng đến khối lượng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ. Một sự tăng lên trong cho vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số tiền tệ và tăng cung ứng tiền tệ.
Còn một sự giảm xuống trong cho vay chiết khấu sẽ làm giảm bớt cơ số tiền tệ và thu hẹp cung ứng tiền tệ. Ngoài việc sử dụng làm công cụ đ tác động đến cơ số tiền tệ và cung ứng tiền tệ, lãi suất tái chiết khấu còn được sử dụng đ giúp cho việc tránh khỏi những cơn sụp đổ tài chính vì ngân hàng đóng vai trò là người cho vay cuối cùng. NHTW đóng vai trò là người cho vay cuối cùng không ch cho các NHTM mà còn cho cả hệ thống tài chính nói chung. NHTW cung cấp dự trữ cho hệ thống ngân hàng khi các ngân hàng bị đe doạ phá sản, do đó ngăn chặn xảy ra những cơn sụp đổ ngân hàng và tài chính.
8 Lãi suất tái cấp vốn cũng gần giống lãi suất tái chiết khấu nhưng đối tượng ở đây là các khoản cho vay của các NHTM và sau đó họ bán lại các khoản này cho NHTW đ đổi lấy lượng tiền.