Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước và khả năng trả nợ của Việt Nam giai đoạn 2005-2015. Đánh giá tác động của thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước đến khả năng trả nợ của Việt Nam và khuyến nghị.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận về thâm hụt ngân sách nhà nước 1. Những vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Nhà nước mang tính giai cấp, với mục đích ban đầu là duy trì bộ máy nhà nước, từ đó ngân sách nhà nước (NSNN) đã ra đời và được hiểu là một công cụ tài chính.
Nhà nước tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ quốc gia để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia. Khái niệm ngân sách nhà nước ra đời, hình thành và phát triển từ hai cơ sở khách quan: nhà nước và kinh tế hàng hóa – tiền tệ. Khái niệm về NSNN vẫn chưa thống nhất giữa các quốc gia trên thế giới. Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được thông qua ngày 25/06/2015, NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Về bản chất, NSNN là hệ thống mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội trong quá trình nhà nước tạo lập, phân phối và sử dụng nguồn tài chính để đảm bảo chức năng của mình. Các quan hệ kinh tế bao gồm quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ, các tổ chức tài chính trung gian, các tổ chức xã hội, hộ gia đình, thị trường tài chính và hoạt động tài chính đối ngoại. Vai trò của ngân sách nhà nước NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Vai trò của NSNN luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định.
Thứ nhất, về mặt kinh tế, kích thích tăng trưởng kinh tế. NSNN thụ động trong việc điều chỉnh các hoạt động khi Việt Nam đi theo cơ chế thị trường kế hoạch hóa tập trung. Nó chỉ có tác dụng thu vốn của dân sau đó thực hiện bao cấp vốn cố định, vốn lưu động, các khoản lương và các khoản bù trừ khác. Hòa vào cùng dòng chảy thay đổi khi Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trườmg định hướng xã hội chủ nghĩa từ năm 1986, Nhà nước đã hình thành cơ cấu nền kinh tế mới 4 phù hợp với nền sản xuất kinh doanh khi đất nước đổi mới.
Điều đó thông qua việc bãi bỏ chế độ thu quốc doanh, chi tiêu chính phủ để kích thích tăng trưởng kinh tế. Thứ hai, về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội. Trước năm 1986, NSNN hoạt động chưa hiệu quả bởi tính bao cấp tràn lan như bao cấp về nhà ở, lương thực, hàng tiêu dùng và các vật phẩm sinh hoạt khác khiến người dân có tính sùng bái, trông chờ và ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước. Một mặt, chính sự bao cấp của nhà nước lại không đảm bảo được công bằng xã hội.
Trong thời kì đổi mới, NSNN cũng đã có chuyển biến lớn về hoạt động. Nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nên NSNN đóng vai trò rất quan trọng trong các nhiệm vụ công. Thứ ba, về mặt thị trường, góp phần ổn định giá thị trường, kiềm chế lạm phát. Với chính sách thả nổi có điều tiết của Chính phủ như hiện nay, Chính phủ tác động vào cung hoặc cầu từ đó điều chỉnh mức giá cả hàng hóa về mức mình mong muốn.
Thêm nữa, luôn thực hiện chính sách bình ổn giá, bảo vệ người tiêu dùng và ổn định sản xuất, thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ làm ổn định giá thị trường. Ngoài ra, chính phủ còn phát hành các công cụ nợ như trái phiếu để bù đắp thiếu hụt NSNN cũng góp phần không nhỏ trong những nỗ lực kiềm chế lạm phát hiện nay. Ngân sách nhà nước = Thu ngân sách nhà nước – Chi ngân sách nhà nước Vì vậy, NSNN chịu tác động trực tiếp của 2 nhân tố là thu và chi ngân sách. Thâm hụt ngân sách nhà nước 1.
Khái niệm thâm hụt ngân sách nhà nước Thâm hụt NSNN, hay còn gọi là thâm hụt NSNN, là tình trạng khi tổng chi tiêu của NSNN vượt quá các khoản thu "không mang tính hoàn trả" của NSNN. Đo lường thâm hụt ngân sách nhà nước Thâm hụt ngân sách hay không, thâm hụt bao nhiêu còn tùy thuộc vào quy tắc đo lường của từng quốc gia. Ở từng nước lại có các cách đo lường và cách hiểu khác nhau. Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới kết quả đo lường của từng quốc gia (phạm vi tính, việc xác định các khoản thu chi và thời gian ghi nhận thu chi NSNN).
Thâm hụt ngân sách nhà nước Thứ nhất, nguyên nhân khách quan, do những thay đổi bất thường như bất ổn an ninh thế giới, diễn biến thiên tai hay do nền kinh tế bị suy thoái. Để khắc phục hậu quả gây ra, nhà nước cần dùng nguồn thu ngân sách để khắc phục và xử lý. Thứ hai, nguyên nhân chủ quan, do quản lý và điều hành ngân sách chưa hiệu quả, năng lực quản lý kém dẫn đến thu không đủ chi. Cũng có thể là do cách đo lường thâm hụt hay sự chủ động của cơ quan nhà nước sử dụng trạng thái thâm hụt ngân sách như một công cụ tài khóa để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Tác động của thâm hụt ngân sách nhà nước tới nền kinh tế a. Tác động tới nền kinh tế Sơ đồ 1. Tác động của thâm hụt NSNN tới nền kinh tế Nhìn vào sơ đồ 1.1, thâm hụt ngân sách có tác động không hề nhỏ tới nền kinh tế. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những hệ lụy kèm theo.
Để hạn chế thâm hụt ngân sách, nhà nước có thể đưa ra các biện pháp tăng thu giảm chi với hình thức tăng nguồn thu chủ yếu là ngân sách. Với việc cắt giảm chi tiêu Chính phủ với chi thường xuyên hoặc chi đầu tư phát triển, dẫn đến việc đầu tư suy giảm, hệ lụy theo đó là GDP giảm và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Như vậy, khả năng trả nợ đo lường theo chỉ tiêu Nợ/GDP cũng tăng theo, ảnh hưởng không tốt đến nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ. Khi thâm hụt ngân sách, nhà nước cần vay một số khoản để bù vào phần thu 6 không đủ chi.
Một trong số đó là phát hành giấy tờ có giá. Đây là khoản vay không còn mới trong giai đoạn gần đây. Hạn chế thâm hụt ngân sách cũng dẫn đến các khoản đầu tư gián tiếp (vào giấy tờ có giá) giảm, giá trái phiếu giảm. Để bù đắp khoản chênh lệch thu chi, Chính phủ cần huy động vốn của các chủ thể trong nền kinh tế.
Ngoài vay của các tổ chức trong nước và nước ngoài, trước đây khi chưa có Luật ngân sách nhà nước năm 2015 quy định cụ thể, Chính phủ cũng có thể phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt NSNN. Đây là biện pháp cuối cùng nếu không thể sử dụng các khoản vay vì phát hành tiền sẽ gây ra lạm phát, ảnh hưởng lớn đến vị thế và uy tín đồng tiền, gây bất lợi khi cạnh tranh. Tác động tới lạm phát Có 3 biện pháp cơ bản để khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước: vay trong nước và nước ngoài hay phát hành tiền. Khi nhà nước sử dụng biện pháp phát hành trái phiếu cả trong nước và nước ngoài (hình thức vay) thì tiền để trả nợ sẽ gây áp lực lên xã hội thông qua nguồn thu chủ yếu của nhà nước là thuế.
Tuy nhiên theo cách này, thâm hụt không tác động tới lạm phát khi tài trợ cho các dự án đầu tư sinh lời. Nếu phát hành tiền, là nguyên nhân trực tiếp tác động tới lạm phát. Khi phát hành tiền, lượng tiền trong lưu thông trực tiếp tăng lên. Mức cung tiền tăng dẫn đến tăng tổng cầu.
Trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế, phát triển kinh tế đi đôi cùng việc lạm phát tăng cao. Lạm phát vừa đủ là một tín hiệu tốt cho nền kinh tế - xã hội nhưng duy trì thâm hụt trong thời gian dài gây ra lạm phát tăng cao liên tục ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế. Tác động tới nợ quốc gia và khả năng trả nợ Để bù đắp thiếu hụt NSNN do thâm hụt, chính phủ có thể vay trong nước và nước ngoài. Nếu khoản tiền này được đầu tư vào các dự án sinh lời trong ngắn hạn và dài hạn thì không đáng lo ngại nhưng nếu khoản tiền này chỉ đầu tư vào chi thường xuyên thì tác động đến tổng cầu trong ngắn hạn và khả năng trả nợ là một vấn đề không nhỏ.
Thâm hụt cán cân thương mại Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành trái phiếu chính phủ. Phát hành thêm trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính phủ giảm, thể hiện qua việc chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy động được người mua. Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền kinh tế cũng tăng. Điều này tác động tiêu cực đến động cơ đầu tư của khu vực tư nhân, khiến họ giảm đầu tư.
Nó còn tác động tích cực đến động cơ tiết kiệm của người tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng. Nó còn làm cho lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước ngoài đổ vào trong nước khiến cho tỷ giá hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu ròng. Tóm lại, phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì có những tác động phụ làm giảm tổng cầu. Những vấn đề cơ bản về khả năng trả nợ của quốc gia 1.
Nguồn trả nợ của một quốc gia Thứ nhất, nguồn thu ngân sách hàng năm: chủ yếu là thuế vì thuế là nguồn thu chủ yếu từ ngân sách. Tuy nhiên nguồn này bị hạn chế vì khi áp lực trả nợ gia tăng không thể tăng thuế liên tục để giải quyết vấn đề nợ quốc gia. Thường các quốc gia đang phải đối mặt với vấn đề nợ quốc gia lại thâm hụt ngân sách nhà nước nên khả năng trả nợ lại là bài toán khó đặt ra cho các cấp chính quyền nhà nước. Thứ hai, nguồn thu từ các hoạt động chi đầu tư của chính phủ.