CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CÁC CHỈ SỐ CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI ĐẾN LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Tổng quan về các chỉ số của bộ ba bất khả thi 1.1 Lý thuyết bộ ba bất khả thi 1.1 Mô hình Mundell-Fleming, điểm khởi đầu cho lý thuyết bộ ba bất khả thi Năm 1963, trong tác phẩm nổi tiếng “Chính sách tài khóa và tiền tệ dưới các chế độ tỷ giá”, Robert Mundell và J.Fleming đã xây dựng mô hình Mundell- Fleming, đây là kết quả nghiên cứu của Robert Mundell và Marcus Fleming trong thời gian làm việc tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF. Mô hình Mundell-Fleming là sự mở rộng của mô hình IS-LM khi có tính đến tác động của cán cân thanh toán. Trước đó, đã có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng mô hình IS-LM bằng cách đưa yếu tố nước ngoài vào mô hình. Tuy nhiên, phần lớn những đóng góp này đều chỉ dừng lại ở mức tranh luận, chưa thực sự trở thành một lý thuyết vững chắc.
Sự ra đời của mô hình Mundell-Fleming được xem là nỗ lực thành công nhất trong việc đưa yếu tố nước ngoài vào mô hình IS-LM và được xem là điểm khởi đầu cho lý thuyết bộ ba bất khả thi. Bằng cách giả định chu chuyển vốn là hoàn hảo, mô hình Mundell-Fleming (Phụ lục 1) đã chỉ ra chính sách tài khóa phát huy hiệu quả cao trong cơ chế tỷ giá cố định và chính sách tiền tệ có tác dụng mạnh dưới chế độ tỷ giá thả nổi.2 Lý thuyết bộ ba bất khả thi - Lý thuyết bộ ba bất khả thi: ựa trên mô hình Mundell-Fleming, Frankel (1999) đã mở rộng mô hình này thành lý thuyết bộ ba bất khả thi. Theo đó, Frankel (1999) cho rằng, một quốc gia phải từ bỏ một trong 3 mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định của tỷ giá, và 5 hội nhập thị trường tài chính. Điều đó nghĩa là một quốc gia chỉ có thể đạt được tối đa 2 trong 3 mục tiêu trên.
Nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi được thể hiện ở tam giác bộ ba bất khả thi. Ba cạnh của tam giác lần lượt thể hiện cho các mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định của tỷ giá, và hội nhập tài chính hoàn toàn. Đối nghịch với mỗi cạnh là các công cụ chính sách tại các đỉnh. Mục tiêu hội nhập tài chính hoàn toàn đối nghịch với đỉnh kiểm soát vốn hoàn toàn, mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập đối nghịch với đỉnh liên minh tiền tệ, mục tiêu ổn định tỷ giá đối nghịch với đỉnh tỷ giá thả nổi hoàn toàn.
Bất kỳ cặp mục tiêu nào cũng có thể đạt được bởi một đỉnh nằm giữa. Hoàn toàn không khả thi để đạt được cùng một lúc cả ba mục tiêu.1: Tam giác bộ ba bất khả thi. - Mẫu hình kim cương: Theo như chuẩn mực ban đầu của bộ ba bất khả thi thì vai trò của dự trữ ngoại hối đã không được phản ánh. Nhiều nhà kinh tế học đã kế thừa và đang tiếp tục phát triển lý thuyết bộ ba bất khả thi, tìm tòi và phát hiện ra các nhân tố có liên quan mật thiết đến việc lựa chọn mẫu hình bộ ba bất khả thi.
Tiêu biểu trong xu hướng đó, chuỗi nghiên cứu của Aizeman, Chinn, Ito đã xem xét việc lựa chọn mẫu hình bộ ba bất khả thi trong mối tương quan với dự trữ ngoại hối (tỷ lệ dự trữ ngoại 6 hối/ P) và cho thấy rằng dự trữ ngoại hối có thể liên quan chặt chẽ đến việc thay đổi mô hình của bộ ba bất khả thi, nhất là tại các nước đang phát triển. Sau những năm cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia mới nổi đã có xu hướng gia tăng mạnh mẽ dự trữ ngoại hối cùng với xu hướng hội tụ về mức trung bình của ba chỉ số bộ ba bất khả thi. Nhóm tác giả nghiên cứu đưa ra các lập luận hợp lý cho việc lựa chọn mẫu trung gian, chi phí của việc gia tăng nắm giữ dự trữ ngoại hối và các can thiệp vô hiệu hóa vào thị trường ngày càng gia tăng nên tạo tính bền vững cho mẫu hình này ở các nước mới nổi, đó chính là mẫu hình kim cương của bộ ba bất khả thi.2: Mẫu hình kim cương ở nhóm các nước mới nổi. Nhóm tác giả Aizenman, Chinn và Ito đã xây dựng đồ thị kim cương cho mỗi quốc gia bằng cách thêm vào khuôn khổ ba nhân tố của bộ ba bất khả thi, ngoài độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá hối đoái và hội nhập tài chính là yếu tố đo lường dự trữ ngoại hối.
Những thước đo này dao động từ 0 đến 1. Cấu hình của mỗi quốc gia được tổng hợp bằng đồ thị hình kim cương tổng quát với bốn đỉnh: độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá, tỷ lệ dự trữ ngoại hối/ P và hội nhập tài chính. ốc trung tâm 7 trong mỗi đồ thị đại diện cho mức độ độc lập tiền tệ bằng 0, tỷ giá thả nổi hoàn toàn, không hội nhập tài chính và không có dự trữ ngoại hối.3 Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian Yigang và Tangxian (2001) đưa ra thuyết tam giác mở rộng dựa trên cơ sở tiếp tục phát triển lý thuyết bộ ba bất khả thi của Mundell. Theo thuyết này, bộ ba bất khả thi của Mundell chỉ mới tập trung đến các cơ chế tỷ giá nằm ở các đỉnh tam giác mà chưa đề cập đến một cơ chế tỷ giá trung gian trong tam giác bất khả thi.
Yigang và Tangxian đã mở rộng mô hình này và kết luận rằng một quốc gia có thể có những phối hợp mục tiêu khác nhau mà không phải chấp nhận sự đánh đổi hoàn toàn như tam giác của Mundell.3 - Tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian Ba cạnh trong tam giác mở rộng cũng tương ứng cho 3 mục tiêu chính sách. Cạnh trái M tượng trưng cho CSTT độc lập, cạnh đáy K tượng trưng cho dòng vốn lưu chuyển hoàn toàn tự do, cạnh phải E tượng trưng cho tỷ giá ổn định. Ba đỉnh của tam giác tượng trưng cho 3 chính sách: A1 là kiểm soát vốn hoàn toàn, A2 là tỷ giá thả nổi hoàn toàn, A3 là liên minh tiền tệ. ọi Ms, Kc và Ev là các khoảng cách từ điểm O tùy ý đến 3 cạnh, tượng trưng lần lượt cho mức độ độc lập của CSTT, mức độ kiểm soát vốn và mức độ biến 8 động tỷ giá.
Trong đó, Kc = 0 là dòng vốn tự do luân chuyển và Kc = 1 là kiểm soát vốn hoàn toàn; Ms = 0 là CSTT độc lập và Ms = 1 là mất độc lập về CSTT; Ev = 0 là tỷ giá cố định và Ev = 1 là tỷ giá thả nổi tự do. Đặt chiều cao của tam giác đều bằng 1 thì Ms + Kc + Ev = 1, xét lần lượt các trường hợp sau: - Trường hợp 1: Khi Kc = 0, vốn tự do luân chuyển, ta có Ms + Ev = 1. • Nếu Ms = 0 và Ev = 1 thì có kết quả: dòng vốn tự do luân chuyển, CSTT độc lập hoàn toàn và tỷ giá thả nổi tự do. • Nếu Ms = 1 và Ev = 0 thì có kết quả: dòng vốn tự do luân chuyển, mất độc lập về CSTT và tỷ giá cố định.
• Nếu 0 < Ms < 1 và 0 < Ev < 1 thỏa mãn Ms + Ev = 1 thì có kết quả: dòng vốn tự do luân chuyển, độc lập CSTT có giới hạn và tỷ giá thả nổi có giới hạn. - Trường hợp 2: Khi Kc = 1, kiểm soát vốn hoàn toàn, ta có Ms + Ev = 0. Ở đây chỉ có duy nhất một kết quả là Ms = 0 và Ev = 0. Đó là sự kết hợp của kiểm soát vốn hoàn toàn, CSTT độc lập hoàn toàn và tỷ giá cố định.
- Trường hợp 3: Khi 0 < Kc < 1, dòng vốn luân chuyển giới hạn: • Nếu Ms = 0 và 0 < Ev < 1 mà thỏa mãn Kc + Ev = 1 thì có kết quả: dòng vốn luân chuyển có giới hạn, CSTT độc lập hoàn toàn và tỷ giá thả nổi có giới hạn. • Nếu 0 < Ms < 1 và 0 < Ev < 1 thỏa mãn Kc + Ms + Ev = 1 thì có kết quả: dòng vốn luân chuyển có giới hạn, CSTT độc lập có giới hạn và tỷ giá thả nổi có giới hạn • Nếu 0 < Ms < 1 và Ev = 0 mà thỏa mãn Kc + Ms = 1 thì có kết quả: dòng vốn luân chuyển có giới hạn, CSTT độc lập có giới hạn và tỷ giá cố định.2 Các chỉ số của bộ ba bất khả thi Để tính toán các chỉ số của bộ ba bất khả thi, phương pháp tính dựa trên công trình nghiên cứu của Aizenman, Chinn, Ito (2008) được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng phổ biến hiện nay. Theo đó, các chỉ số đo lường sự theo đuổi các mục tiêu chính sách của bộ ba bao gồm chỉ số độc lập tiền tệ, chỉ số ổn định tỷ giá, chỉ số độ mở tài chính. 9 - Chỉ số độc lập tiền tệ (MI – Monetary Independence) MI là chỉ số đo lường mức độ độc lập của CSTT.
Các quốc gia có được sự độc lập trong điều hành CSTT thì lãi suất của đồng bản tệ sẽ không chịu hoặc ít chịu ảnh hưởng từ lãi suất bên ngoài. Theo đó, MI được tính theo hệ số tương quan giữa lãi suất trong nước với lãi suất của đồng tiền mà quốc gia chọn neo cho đồng tiền của nước mình. MI dao động trong khoảng [0,1] với MI càng gần 1, sự độc lập trong điều hành CSTT càng cao. - Chỉ số ổn định tỷ giá (ERS – Exchange Rate Stability) ERS là chỉ số đo lường mức ổn định của tỷ giá để quan sát mức độ theo đuổi mục tiêu ổn định tỷ giá của một quốc gia.
ERS được tính theo độ lệch chuẩn của tỷ giá giữa đồng tiền trong nước và đồng tiền được chọn neo.2) 0,01 stdev ( log( exch rate )) Trong đó: + exchrate: tỷ giá giữa đồng tiền trong nước và đồng tiền được chọn neo + stdev: độ lệch chuẩn 10 ERS dao động trong khoảng [0,1], ERS càng gần 1 thì tỷ giá càng ổn định. - Chỉ số hội nhập tài chính (KAOPEN – Financial Openness) KAOPEN là chỉ số đo lường mức độ hội nhập tài chính của một quốc gia.