Chương 1 cũng đã nêu ra mục tiêu nghiên cứu và xác định quy trình thực hiện đề tài. Trong chương 2, tác giả sẽ tập trung vào xây dựng cơ sở lý thuyết và trình bày những công trình khoa học quan trọng trong chủ đề đang được nghiên cứu. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ thực hiện khảo lược cơ sở lý thuyết về thị trường chứng khoán và chỉ số đo lường bất ổn chính sách kinh tế EPU. Bên cạnh đó tổng hợp những nghiên cứu cùng chủ đề đã đường thực hiện trong và ngoài nước để tạo tiền đề cho các chương tiếp theo đồng thời đảm bảo hàm lượng khoa học trong bài nghiên cứu.
Thị trường chứng khoán: 2. Giới thiệu về thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là một trong những kênh huy động vốn quan trọng trong thị trường tài chính của mọi nền kinh tế hiện đại. TTCK thông thường bao gồm thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và thị trường các công cụ tài chính phái sinh (Cecchtti và cộng sự, 2006). Thị trường cổ phiếu bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, trong đó thị trường thứ cấp là nơi giao dịch cổ phiếu đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.
Thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch các công cụ nợ trung và dài hạn, cho phép chuyển nhượng vốn từ người cho vay sang người đi vay. Thị trường phái sinh là thị trường mua bán các hợp đồng phái sinh như: hợp đồng giao sau, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi với mục đích chính là chuyển nhượng rủi ro. Như vậy, có thể hiểu về mặt hình thức, TTCK là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi,mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán trung và dài hạn, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán. Việc giao dịch chứng khoán có thể được thực hiện thông qua các Sở giao dịch chứng khoán hoặc giao dịch qua quầy.
Xét về bản chất, TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm để phân phối lại cho những ai muốn sử dụng các nguồn tiết kiệm đó theo giá mà người sử dụng sẵn sàng trả và theo phán đoán của thị trường về khả năng sinh lời từ các dự án của người sử dụng (Đặng Thị Quỳnh Anh, 2018) Vì vậy, TTCK thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ. Các chứng khoán mua bán trên TTCK có thể đem lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời gian nhất định và được lưu thông trên TTCK theo giá cả thị trường. Đây là nơi mua bán các quyền 9 sở hữu về tư bản và là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá. Vai trò của thị trường chứng khoán Đối với nền kinh tế TTCK là một trong những thành phần không thể thiếu nhằm hình thành một hệ thống tài chính hoàn chỉnh.
Với nhiệm vụ trọng tâm là luân chuyển vốn giữa các hoạt động trong một nền kinh tế, TTCK hoạt động hiệu quả sẽ tạo điều kiện rất tốt để các cá thể có thể khai tác tiềm năng từ những nguồn lực có hạn, giúp cho hiệu suất hoạt động của toàn bộ nền kinh tế luôn được duy trì ở mức gần tối ưu. TTCK có rất nhiều vai trò khác như tạo dựng môi trường đầu tư phát triển, kích thích các doanh nghiệp hoạt động minh bạch và hiệu quả hơn, tạo tiền đề cho quá trình cổ phần hoá và cũng là hơi giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế xã hội (Đặng Thị Quỳnh Anh, 2018). Tuy nhiên, trong bối cảnh của bài nghiên cứu, ta tập trung vào chức năng luân chuyển vốn của TTCK. Bên cạnh đó, một vai trò khác của TTCK cũng cần được quan tâm đó là nơi đo lường phản ứng của thị trường đối với những chính sách kinh tế trong và ngoài nước.
Đối với nhà đầu tư: Bên cạnh những đóng góp rất quan trọng cho nền kinh tế, TTCK cũng có những vai trò đáng kể đối với nhà đầu tư. Thứ nhất, là kênh đầu tư quan trọng bênh cạnh những hoạt động sản xuất kinh tế. TTCK giúp cho cả những nhà đầu tư tổ chức và cá nhân có thêm một kênh đầu tư tương đối đơn giản, mang lại nhiều lợi suất nhưng vẫn đảm bảo tính thanh khoản trong đầu tư. Những cơ hội đầu tư trên thị trường chứng khoán có thể đáp ứng tất cả các như cầu đầu tư ngắn hạn, dài hạn phù hợp với mọi đối tượng đầu tư.
10 Thứ hai đây là kênh thông tin phản ánh sức khoẻ của thị trường, cung cấp một lượng lớn thông tin về hoạt động doanh nghiệp cho các nhà đầu tư. Sau 20 năm xây dựng và phát triển thần tốc, TTCK từ một thị trường với 2 công ty niêm yết đã phát triển quy mô tương đương hơn 70% giá trị GDP toàn Việt Nam.4 Với quy mô vốn hoá thị trường lớn và số lượng công ty niêm yết đáng kể, TTCK dần trở thành kênh thông tin không thể thiếu cho các cá thể kinh tế đã đang và sẽ tham gia vào môi trường đầu tư trong nước. Sự phát triển của TTCK thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết và tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, giúp nhà đầu tư luôn nằm bắt được tương đối đầy đủ những thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Thứ ba là một trong những phương án chia sẻ rủi ro giữa các nhà đầu tư.
TTCK còn giúp các nhà đầu tư có thể tham gia vào các cơ hội đầu tư an toàn hơn với số vốn không quá lớn. Nếu không có TTCK, nguồn vốn trong nền kinh tế sẽ bị hạn chế rất nhiều khi các nhà đầu tư hoặc không đủ vốn hoặc không đủ khẩu vị rủi ro để chấp nhận những cơ hội mới xuất hiện trên thị trường. TTCK giải toả mối lo này bằng cách phân phối lại nguồn tài chính từ các cá thể kinh tế và chia một phần rủi ro tương ứng cho từng nhà đầu tư tham gia. Việc này sẽ giúp các nhà đầu tư tự tin hơn khi tham gia thị trường và cũng giảm bớt tác động xấu từ những cú sốc thị trường đến nhà đầu tư.
Chỉ số chứng khoán Theo Bodie (2013) chỉ số giá chứng khoán, khối lượng và giá trị giao dịch cổ phiếu là những chỉ báo quan trọng phản ánh hoạt động của TTCK. Trong đó, chỉ số giá chứng khoán là chỉ số phản ánh sự biến đổi của giá chứng khoán tại một thời điểm so với thời điểm gốc nào đó. Chỉ số giá cổ phiếu là loại thông tin quan trọng nhất của thị trường và thường được các nhà đầu tư sử dụng trong phân tích đầu tư chứng khoán (Nguyễn Đăng Nam, 2006). Chỉ số chứng khoán được ưu tiên sử dụng khi nghiên cứu về phản ứng của thị trường đối với một tác nhân cụ thể (thay đổi yếu tố vĩ mô, tác động từ yếu tố nước ngoài…) vì tính chất bao quát của nó.
Các chỉ số chứng khoán sử dụng trên các thị trường tài chính (đặc 4 Số liệu của Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước. 11 biệt là ở Việt Nam) luôn được điều chỉnh nhằm phản ảnh đầy đủ thị trường vốn (“Quyết định 174/QĐ-SGDHCM”, 2012) và những biến động hàng ngày của một nền kinh tế dựa trên lý thuyết thị trường hiệu quả. Những yếu tố tác động đến thị trường chứng khoán Các nghiên cứu đã công bố nhìn chung đã phát hiện ra rằng các yếu tố khách quan và chủ quan như tỷ suất cổ tức, tỷ giá, lạm phát, lãi suất, sản xuất công nghiệp, các chỉ báo kinh tế thế giới của MSCI, chỉ số tự do hóa tài chính và hội nhập thị trường có tác động tích lũy cùng lúc đến sự biến động của thị trường chứng khoán. Caner và Onder (2005) đã tổng hợp và phân tích các yếu tố giải thích các nguồn biến động trong lợi nhuận chứng khoán.
Lợi suất cổ tức, tỷ giá hối đoái, lãi suất, tỷ lệ lạm phát và sự biến động của chỉ số thị trường thế giới đã được xác định là các biến số quan trọng hơn ảnh hưởng đến biến động thị trường. Kết quả chỉ ra rằng tỷ suất cổ tức là một nguồn biến động lợi nhuận cổ phiếu đáng kể với độ biến động cao nhất trong tất cả các thị trường. Kết quả tương tự đã được tìm thấy bởi Kay và Putten (2007), người nói rằng sự biến động giá cổ phiếu có liên quan đến hiệu suất của công ty, được thể hiện như một khoản chi trả cổ tức. Tuy nhiên, các yếu tố khác, như lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát, bị ảnh hưởng bởi các chính sách tài khóa, tiền tệ và thương mại ảnh hưởng đến sự biến động trong thị trường chứng khoán mới nổi.
Abugri (2002) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và đặc điểm lợi nhuận và biến động của thị trường chứng khoán tại bốn thị trường chứng khoán Mỹ Latinh là Brazil, Mexico, Argentina và Chile. Ông kết luận rằng tỷ giá hối đoái, lãi suất, sản xuất công nghiệp và cung ứng tiền ở mỗi quốc gia có tác động đáng kể trong việc giải thích mối quan hệ giữa lợi nhuận chứng khoán và biến động thị trường chứng khoán. Hơn nữa, Bilson, Brailsford và Hooper (2002) đã kiểm tra các biến số kinh tế vĩ mô địa phương và thấy rằng họ có mức độ giải thích đáng kể đối với lợi nhuận vốn chủ sở hữu ở các thị trường mới nổi. Tự do hóa tài chính và hội nhập thị trường góp phần đáng kể vào việc giảm biến động thị trường chứng khoán.
Ví dụ, việc tập hợp các quốc gia thành một đơn vị kinh tế, 12 như trong Liên minh châu Âu (EU), có thể mang lại hiệu quả cao cho thị trường chứng khoán. Hardouvelis, Malliaropulos và Priestley (2006) đã báo cáo rằng sự hội nhập của thị trường chứng khoán sau khi ra mắt đồng tiền chung duy nhất vào tháng 1 năm 1999 đã cải thiện thị trường chứng khoán châu Âu với sự minh bạch được cải thiện, giá cả được chuẩn hóa trên thị trường tài chính và giảm thiểu chi phí giao dịch. Hơn nữa, một loại tiền tệ duy nhất giảm rủi ro trong tỷ giá hối đoái tổng thể của chứng khoán châu Âu. Theo kết quả nghiên cứu của họ, các quốc gia tham gia Liên minh kinh tế và tiền tệ (EMU) đã đạt được mức độ hội nhập chứng khoán và lợi nhuận kỳ vọng (expected return) cao hơn các quốc gia không phải là thành viên của EU.