phần mở đầu với lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 trình bày khung lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm. Chương 3 trình bày rõ hơn về mô hình nghiên cứu, phương 5 pháp ước lượng và dữ liệu nghiên cứu. Chương 4 báo cáo kết quả nghiên cứu và phân tích.
Sau cùng là phần kết luận, nêu những hạn chế và đề ra hướng nghiên cứu mở rộng để hoàn thiện, phát triển đề tài. KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. Khung lý thuyết về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của quốc gia, trong đó mỗi chính sách theo đuổi một mục tiêu cụ thể và tuân thủ những quy luật riêng, song đều hướng tới mục đích chung là ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng thời cả hai chính sách có mối quan hệ tương tác lẫn nhau cả trong ngắn và dài hạn.1 Chính sách Tài Khóa Chính sách tài khóa (CSTK) là hệ thống các chính sách của Chính phủ về tài chính, được hoạch định và thực hiện trong một niên khóa tài chính. CSTK thể hiện các quan điểm, cơ chế và phương thức huy động các nguồn lực tài chính hình thành nên ngân sách nhà nước (NSNN), các quỹ tài chính có tính chất tập trung của Nhà nước để thực hiện các khoản chi của NSNN trong từng thời kỳ.
Mục tiêu của CSTK sẽ được thiết lập dựa trên mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia nhằm ổn định nền kinh tế bằng những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế và chi tiêu của chính phủ qua đó tác động đến tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế, kiểu phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập. CSTK do chính phủ thực hiện mà nhiệm vụ trực tiếp thường là Bộ Tài chính. CSTK có thể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm phát. Như vậy, việc thực thi CSTK sẽ do chính phủ thực hiện liên quan đến những thay đổi trong các chính sách thuế và chi tiêu chính phủ.
Cần phải lưu ý rằng, chỉ chính quyền trung ương (chính phủ) mới có quyền và chức năng thực thi chính sách tài khóa, còn chính quyền địa phương không có chức năng này. Đây cũng chính là một trong những yếu tố giúp phân biệt giữa một CSTK với một chính sách chi tiêu thuộc phạm vi ngân sách theo phân cấp của chính quyền địa phương. Để thực thi CSTK thì chính phủ sẽ cần phải sử dụng các công cụ của nó. 7 Thuế (T) là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội là tiền thu được của Ngân sách nhà nước từ các hoạt động kinh tế của nhân dân (như mua bán, sản xuất kinh doang, tiền lương, hoạt động xuất nhập khẩu…) nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu, quản lý, điều hành của nhà nước.
Hệ thống thuế hiện nay ở Việt Nam gồm nhiều loại thuế khác nhau nhằm quản lý đầy đủ và toàn bộ hoạt độ của nền kinh tế. Vì vậy Chính phủ khi cần phải điều tiết, khuyến khích, bảo hộ… việc sản xuất, tiêu dùng thì hoàn toàn có thể dùng công cụ thuế để thực hiện mục tiêu mong muốn của mình; ngoài ra Chính phủ còn cần phải cân nhắc để đáp ứng tăng thu thu thuế để d0ap1 ứng nhu cầu chi thường xuyên, chi dầu tư và cân đối ngân NSNN. Các khoản thu thuế của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Các nhiều loại thuế khác nhau tuy nhiên có thể phân thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu.
Thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp lên tài sản và/hoặc thu nhập của người dân, còn thuế gián thu là thuế đánh lên giá trị của hàng tiêu dùng, dịch vụ trong các hoạt động sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế. Các chính sách chi tiêu của chính phủ có nhiều nội dung nhưng nếu dựa vào tính chất thì có thể chia thành hai loại là: chi tiêu thường xuyên (các nội dung chi phát sinh hằng năm gồm chi lương, các các hoạt động quản lý về giáo dục, y tế, tài nguyên môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn…) và chi đầu tư phát triển (ví dụ như xây dựng cơ sở hà tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin…). Chi tiêu chính phủ (G) có tác động trực tiếp đến tổng cầu, ảnh hưởng lớn hơn đến sản lượng, công ăn việc làm. Thuế làm thay đổi thu nhập khả dụng và tiêu dùng, tác động đến giá cả, sản lượng.
Thuế còn hạn chế vai trò của số nhân trong quá trình lan truyền tác động của các thành tố tổng cầu. Sản lượng sẽ thay đổi ít hơn khi không có thuế thu nhập. Với nghĩa đó, thuế (như hàm số của thu nhập) có vai trò là một “van” ổn định tự động. Tuy nhiên, việc vận dụng các công cụ CSTK không đơn giản.
Tác động của chi tiêu chính phủ còn phụ thuộc khả năng của tổng cung. Nếu tổng cung không đáp ứng việc tăng cầu qua chính sách bành trướng tài khóa có thể dẫn đến lạm phát tăng; điều này càng đúng khi các khoản thâm hụt ngân sách được bù đắp thông qua 8 việc phát hành tiền, thay vì vay nợ nước ngoài và/hoặc vay trong nước qua phát hành trái phiếu. Chính sách thuế nói chung (không chỉ có thuế mà còn các khoản thu ngân sách ngoài thuế khác và không tính nợ vay. Ngoài ra, chúng ta xem trợ cấp như một loại thuế âm) và chi tiêu chính phủ (chi tiêu mua sắm hàng hóa, dịch vụ của chính phủ).
Ngoài công cụ thuế và chi tiêu, các công cụ tài trợ cho thâm hụt ngân sách hay tài trợ nợ của chính phủ (tạm gọi là nợ công) cũng được xem là một phần của chính sách tài khóa. Như vậy, chúng ta thấy có ba trạng thái của cán cân ngân sách chính phủ (T – G): Nếu T > G => chúng ta gọi là thặng dư ngân sách Nếu T < G => chúng ta gọi là thâm hụt ngân sách Nếu T = G => chúng ta gọi là cân bằng ngân sách 2. Chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ (CSTT) là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước, là các biện pháp, công cụ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi phối, điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suất và tín dụng, tức là thông qua chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền để đạt được các mục tiêu của quản lý kinh tế vĩ mô nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn nhất định. Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đền bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa.
Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kì tới (thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hóa. Chính sách tiền tệ quốc gia tập trung vào mức độ khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lượng cần cung ứng cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và khối lượng tín dụng đáp ứng vốn cho nền kinh tế, tạo 9 điều kiện và thúc đẩy hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo những quỹ đạo đã định. NHNN thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên hai mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ).
Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng 0 vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được, để có một tỷ lệ lạm phát giảm phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên. CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Mặt khác, khi tăng trưởng kinh tế đạt được do kết quả của cuộc cải tiến kĩ thuật thì việc làm có thể không tăng mà còn giảm. Theo nhà kinh tế học Arthur Okun thì khi tổng sản lượng quốc gia thực tế giảm 2% so với tổng sản lượng quốc gia tiềm năng, thì mức thất nghiệp tăng 1%.
Từ những điều trên cho thấy, vai trò của NHNN khi thực hiện mục tiêu này: tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất – kinh doanh, chống suy thoái kinh tế theo chu kỳ, tăng trưởng kinh tế ổn định, khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng ,nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ. Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà. Mối quan hệ giữa các mục tiêu: Có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách rời.
Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHNN trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Mặt khác để biết các mục tiêu cuối cùng trên có thực hiện được không, thì các NHNN phải chờ thời gian dài (một năm – khi kết thúc năm tài chính).