phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương Chƣơng 2: Một số nội dung cơ bản trong chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, giai đoạn 2000-2004. Chƣơng 3: Những tác động từ chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, giai đoạn 2000-2004. z 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƢƠNG 1.1 Cơ sở lý luận về chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng Việc nghiên cứu quan hệ kinh tế của Mỹ với khu vực châu Á - Thái Bình Dương dựa trên lý thuyết và thực tiễn là rất đa dạng và phức tạp. Thực tế, không một lý thuyết nào về quan hệ kinh tế quốc tế có thể giải thích được mọi hoạt động thực tiễn, mà hầu như mỗi một lý thuyết chỉ giải thích được một phần nào đó của các hiện tượng này.
Do đó, luận văn sẽ tập trung vào những luận điểm chính trong các lý thuyết có ảnh hưởng tới mối quan hệ kinh tế của Mỹ với khu vực châu Á - Thái Bình Dương và các quan điểm chi phối việc hoạch định chính sách của Mỹ đối với khu vực này. Lý thuyết tự do kinh tế Ngày nay, lý thuyết tự do kinh tế đã thay đổi nhiều về hình thức và nội dung, từ những ý tưởng của Adam Smith cho đến những công thức toán học phức tạp. Tuy vậy, nó vẫn dựa trên niềm tin rằng tự do kinh tế sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập quốc gia. Năm 1776, trong tác phẩm của cải của các dân tộc quốc gia (The Wealth of the Nations), Adam Smith đã cho rằng tăng trưởng kinh tế là chìa khóa dẫn tới sự giầu có của một quốc gia.
Về cơ bản, tăng trưởng kinh tế thực hiện chức năng phân công lao động và đến lượt nó, phân công lao động lại phụ thuộc vào quy mô thị trường. Adam Smith đã đưa ra khái z 8 niệm lợi thế tuyệt đối để giải thích nguồn gốc trao đổi quốc tế. Theo ông, các nước khác nhau về điều kiện thiên nhiên và địa lý do tài nguyên đa dạng nhưng phân bố không đều giữa các quốc gia. Khi đó, sự khác nhau này buộc các nước phải chuyên môn hóa vào sản xuất một số mặt hàng nhất định.
Điều này đã làm cho chi phí sản xuất giảm xuống, sản lượng tăng lên và thông qua trao đổi quốc tế, các quốc gia đều có lợi. Như vậy, theo Adam Smith tự do trao đổi giữa các nước là sức mạnh, động lực làm cho nền kinh tế tăng trưởng. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith cho thấy một quốc gia nếu có lợi thế tuyệt đối so với một quốc gia khác về một số loại hàng hóa thì nước nước đó sẽ thu được lợi ích từ ngoại thương, nhờ chuyên môn hóa sản xuất theo lợi thế tuyệt đối. Tuy nhiên, quan điểm này chưa giải thích một cách rõ ràng việc tại sao một nước không có lợi thế tuyệt đối nào vẫn có thể tham gia một cách tích cực vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế để phát triển các hoạt động thương mại quốc tế.
Để khắc phục những hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối, cũng như để trả lời các vấn đề về trao đổi quốc tế giữa các nước khi có chênh lệch về trình độ sản xuất, David Ricardo (1772-1823) đã đưa ra quan điểm về lợi thế so sánh. Theo ông, lợi ích thương mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về lợi thế so sánh ở mỗi quốc gia, được thể hiện qua các chi phí cơ hội: “các nước sẽ có lợi khi chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà họ làm ra với chi phí so sánh thấp hơn so với các nước khác” [6, tr 327]. Quy luật về lợi thế so sánh hay chi phí so sánh của Ricardo đã đưa ra một cơ sở mới cho lý thuyết tự do kinh tế và là hạt nhân cho toàn bộ công trình về kinh tế học tự do. Lý thuyết tự do cổ điển của Ricardo được dựa nhiều vào các giả thuyết rút ra từ những kinh nghiệm thực tiễn.
Do đó, nó bỏ sót nhiều nhân z 9 tố như là chi phí vận chuyển. Ông cho rằng các yếu tố sản xuất là lưu động trong một quốc gia nhưng lại bất biến trên thị trường quốc tế. Lợi thế so sánh là cố định trong một đất nước, nó là món quà của thiên nhiên và không thể chuyển được từ nước này sang nước khác. Bên cạnh đó, lý thuyết này dựa vào giá trị lao động, nghĩa là số lượng và hiệu quả của đầu vào lao động là nhân tố cơ bản quyết định sản xuất và một hạn chế nữa của quy luật lợi thế so sánh là chỉ dựa trên mô hình hai nước.
Để khắc phục tình trạng này, các nhà lý luận cổ điển mới đã bổ sung thêm chi phí vận chuyển. Họ cho rằng các yếu tố sản xuất có sự dịch chuyển linh hoạt giữa các quốc gia và đề cao nguyên nhân của thương mại là làm tăng lợi nhuận tương xứng với khả năng của mỗi nước. Họ cũng chú trọng đến bản chất năng động của lợi thế so sánh (lợi thế so sánh động) và lý thuyết này đã được cụ thể hóa bằng những kỹ thuật toán học và dữ liệu thống kê. Các yếu tố khác ngoài lao động cũng được đưa thêm vào chi phí sản xuất dẫn tới khái niệm sở hữu tự nhiên các yếu tố tương đối trong việc giải thích trao đổi thương mại.
Khái niệm về lao động đã được sửa đổi thành vốn con người và chi phí đã được định nghĩa lại thành chi phí cơ hội. Những ý tưởng trọng tâm của kinh tế học cổ điển mới như là lý thuyết về lợi ích cận biên, lý thuyết chu kỳ sản phẩm và lý thuyết cân bằng tổng quát được bổ sung vào nhằm giải thích điều kiện thương mại và nhiều vấn đề khác. Cách giải thích của lý thuyết cổ điển mới được phân tích sâu hơn dưới dạng lý thuyết hay mô hình của Heckscher-Ohlin-Samuelson (H-O model) về thương mại quốc tế. Đây cũng là quan điểm tự do chuẩn mực hồi đầu thập niên 1980.
Lý thuyết này cho rằng lợi thế so sánh của một nước do sự thừa thãi tương đối và cách thức kết hợp có lợi nhất những yếu tố sản xuất như vốn, lao động, nguồn tài nguyên, quản lý và kỹ thuật quyết định. Một cách cụ thể hơn là “quốc gia sẽ xuất khẩu hoặc nhập khẩu những hàng hóa tận dụng nhiều các yếu tố mà nó dư thừa hoặc khan hiếm”[28, tr 26]. z 10 Do vậy, mô hình H-O đã trở nên năng động, linh hoạt và toàn diện hơn lý thuyết cổ điển về lợi thế so sánh. Có thể nói, bước phát triển quan trọng gần đây trong lý thuyết tự do kinh tế là nỗ lực nhằm giải thích sự tăng trưởng nhanh chóng của thương mại trong nội bộ một ngành công nghiệp.
Các lý thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của nền kinh tế quy mô và sở thích khác nhau của người tiêu dùng. Chúng cũng đề cao tầm quan trọng ngày càng lớn của của cạnh tranh độc quyền hay không hoàn hảo, việc áp dụng các lý thuyết về công ty và các tổ chức công nghiệp trong các loại hình quan hệ, sự gia tăng gắn kết giữa thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài. Đi đầu trong cách tiếp cận này là Paul Krugman và Kelvin Lancaster (1983), đã cho rằng trao đổi quốc tế được chia làm hai bộ phận: thương mại giữa các ngành (theo chiều dọc) và thương mại trong một ngành (theo chiều ngang). Trong đó, các tiếp cận về lợi thế so sánh truyền thống không thể giải thích được thương mại theo chiều dọc.
Tập trung vào phân tích về sản phẩm đa dạng và kinh tế quy mô, mô hình của Paul Krugman giả thiết rằng bằng việc sử dụng một loại công nghệ có tính quy mô (giảm chi phí sản xuất khi sản lượng tăng), mỗi nước có thể tập trung sản xuất một số lượng hạn chế các hàng hóa những với số lượng lớn hơn. Quy mô thị trường trong nước có hạn nên nhu cầu trao đổi nảy sinh và thông qua đó, hàng hóa trên thị trường sẽ nhiều hơn, đa dạng hơn va giá cả thấp hơn. Tuy nhiên lý thuyết này không chỉ ra được xu hướng thương mại. Bởi vì, bất kỳ một nước nào đều có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh trong một ngành nào đó bằng cách sản xuất thật nhiều sản phẩm để giảm chi phí.
Như vậy, nước nào sản xuất sản phẩm gì là không rõ ràng. Mặc dù vậy, lý thuyết này đã cho thấy thương mại trong ngành mở rộng khả năng tiêu thụ, tăng hiệu quả kinh tế và phát triển quy mô. z 11 Như vậy, các nhà tư tưởng tự do xem thương mại tự do là chính sách tốt nhất. Chuyên môn hóa và phân công lao động quốc tế làm tăng năng suất cá nhân, tích lũy của cải cho quốc gia, cho thế giới và khả năng tiêu dùng.
Họ tin rằng mục đích duy nhất của xuất khẩu là để trả cho các khoản nhập khẩu. Nếu những méo mó làm cản trở thương mại hay có nghĩa nhập khẩu sẽ gây ra những thiệt hại không đáng có cho xã hội là giải pháp đầu tiên và tốt nhất của họ là loại bỏ các méo mó chứ không áp đặt các hạn chế thương mại. Về mặt lý luận, lý thuyết tự do kinh tế đã cung cấp cơ sở khoa học cho việc giải thích cũng như những dự đoán về quá trình phát triển của thương mại quốc tế và xu thế hợp tác kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay. Mặc dù, thiên về khai thác những mặt tích cực của tự do thương mại, nhưng luận thuyết này luôn là một trong những cơ sở quan trọng cho việc hoạch định chiến lược hợp tác kinh tế của các quốc gia nói chung và của Mỹ nói riêng.
Lý thuyết về Chủ nghĩa quốc tế tự do Đây là trường phái lý thuyết nhấn mạnh đến mục tiêu lợi ích thông qua việc hợp tác. Chủ nghĩa quốc tế tự do nhìn nhận tổng thể nền kinh tế và chính trị quốc tế như là một khối phụ thuốc lẫn nhau và có thể hợp tác trong hòa bình.