chương 1 cung cấp những tri thức cơ bản về một số vấn đề trong kinh tế vĩ mô liên quan đến CSTT; đưa ra khái niệm, mục tiêu, công cụ của CSTT và các biện pháp điều tiết mức cung tiền của NHTW. Trên cơ sở đó, nhóm 8 sẽ phân tích cơ chế tác động của CSTT đến sản lượng, lạm phát và nêu ra những hạn chế của CSTT. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN 1. Các mục tiêu kinh tế vĩ mô Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ là bình ổn giá cả và lạm phát: NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình.
Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2 mặt: sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ). Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng không, vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được. Trong điều kiện nền kinh tế trì trệ thì kiểm soát lạm phát ở một tỷ lệ hợp lý (thường ở mức một con số) sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế trở lại. Ngoài ra, mục tiêu tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp: CSTT mở rộng hay thắt chặt có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế.
Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát gia tăng. Thêm nữa, mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chống suy thoái: tăng trưở ng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng, nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ. Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà. Ngoài ra, nó có thể ổn định hệ thống tài chính, ổn định tỷ giá, cân bằng cán cân thanh toán… 9 Giữa các mục tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách rời.
Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện Chính sách tiền tệ cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Phần lớn NHTW các nước coi sự ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của chính sách tiền tệ. Sản lượng GDP là thước đo tổng sản lượng và tổng thu nhập của một nền kinh tế.
Đây là một trong những biến số kinh tế quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân và là chỉ báo tốt nhất về phúc lợi kinh tế của xã hội. Tổng sản phẩm trong nước là giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định. Giá trị GDP có thể được đo lường bằng các phương pháp như sau: Thứ nhất, phương pháp chi tiêu: GDP= C+I+G+X-M (trong đó C là tiêu dùng hộ gia đình, I là đầu tư tư nhân, G là chi tiêu chính phủ, X là xuất khẩu, M là nhập khẩu) Thứ hai, phương pháp thu nhập GDP= W+R+I+Pr+OI+Te+Dep (trong đó W là thù lao lao động, R là tiền cho thuê tài sản, I là tiền lãi ròng, Pr là lợi nhuận doanh nghiệp, OI là thu nhập của doanh nhân, Te là thuế gián thu ròng, Dep là khấu hao tài sản cố định) Cuối cùng là phương pháp sản xuất: GDP= Tổng giá trị tăng thêm theo sản xuất + Thuế giá trị gia tăng phải nộp + Thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Tổng sản phẩm quốc nội hoặc GDP đề cập đến giá trị kinh tế của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong phạm vi quốc gia, trong một năm tài chính cụ thể cộng với thu nhập của cư dân nước ngoài thu nhập ít hơn ở nước ngoài. Khi GDP được ước tính theo mức giá hiện tại, kết quả sẽ thu được GDP danh nghĩa, trong khi GDP thực tế được tính toán theo mức gia cố định.
Nếu đặt chúng lên bàn cân để so sánh: Cơ sở để GDP danh nghĩa GDP thực so sánh Ý nghĩa Giá trị thị trường tổng hợp của sản GDP thực tế đề cập đến giá trị của sản lượng kinh tế được sản xuất trong lượng kinh tế được sản xuất trong một một năm trong phạm vi biên giới thời kỳ nhất định, được điều chỉnh 10 của đất nước được gọi là GDP theo những thay đổi trong mức giá danh nghĩa. Nó là gì? GDP mà không có tác động của Lạm phát điều chỉnh GDP lạm phát. Thể hiện Giá hiện tại Giá cơ sở năm hoặc giá không đổi. trong Giá trị Cao hơn Nói chung, thấp hơn.
Công dụng So sánh các khu vực khác nhau của So sánh hai hoặc nhiều năm tài chính năm nhất định có thể được thực có thể được thực hiện dễ dàng. Tăng Không thể được phân tích dễ dàng. Chỉ số tốt về tăng trưởng kinh tế. trưởng kinh tế Cả hai thể hiện sự vững chắc về tài chính của đất nước, theo đó GDP thực tế được ưu tiên hơn GDP danh nghĩa, nó giúp việc so sánh dễ dàng giữa các năm tài chính khác nhau.
Mặt khác, GDP danh nghĩa cung cấp một viễn cảnh tốt hơn để so sánh các nền kinh tế khác nhau ở mức giá hiện tại. Sản lượng tiềm năng là là mức sản lượng đạt được trong khi nền kinh tế tồn tại một mức thất nghiệp gọi là mức thất nghiệp tự nhiên. Lạm phát Lạm phát là hiện tượng kinh tế trong đó giấy bạc lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết, làm cho chúng mất giá, dẫn đến giá cả của hầu hết các hàng hóa không ngừng tăng lên. Tỷ lệ lạm phát được tính theo công thức: π = %∆P Căn cứ vào mức độ lạm phát có thể chia lạm phát thành 3 mức độ.
Lạm phát vừa phải: 0 đến dưới 10% mỗi năm. Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1. Siêu lạm phát: trên 1.000% Với một quốc gia sản xuất yếu kém, hàng hóa khan hiếm thì giá cả hàng hóa tăng. Giá tăng thì phải bỏ nhiều tiền hơn mua hàng hóa.
Mà khi tiền mang đi quá nhiều bất tiện, nhà nước sẽ in các tờ tiền mệnh giá lớn để hỗ trợ lưu thông hàng hóa gọn gàng hơn. Khi đó lạm phát bắt đầu xảy ra. Có rất nhiều nguyên nhân xảy ra, tuy nhiên do "cầu kéo" và "phía cung" được coi là 2 nguyên nhân chính. Lạm phát cầu kéo là khi nhu cầu thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ khiến giá cả của mặt hàng đó tăng theo.
Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên 11 về cầu (nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng) được gọi là “lạm phát do cầu kéo”. Ở Việt Nam, giá xăng tăng lên kéo theo giá cước taxi tăng lên, giá thịt lợn tăng, giá nông sản tăng. là một ví dụ điển hình Lạm phát phía cung bao gồm lương- đẩy và chi phí- đẩy.
Lạm phát lương- đẩy là tăng lương kéo theo tăng giá còn lạm phát chi phí đẩy là khi chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận. Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế tăng lên được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”. Ngoài ra còn có lạm phát do xuất khẩu là khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung. Khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm, tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu.
Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát. Lạm phát do nhập khẩu là khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên. Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát. Lạm phát do tiền là khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.
Vậy thì lạm phát liệu có tác động gì đến nền kinh tế không? Trước hết là tác động tiêu cực, no tạo ra sự gia tăng chi phí cơ hội của việc tích trữ tiền và sự không chắc chắn về tình hình lạm phát trong tương lai có thể ngăn cản quyết định đầu tư và tiết kiệm. Nếu lạm phát tăng trưởng đủ nhanh, sự khan hiếm của hàng hóa sẽ khiến người tiêu dùng bắt đầu lo lắng về việc giá tăng trong thời gian. Nhưng lạm phát cũng có tác động động tích cực đến nền kinh tế bởi trong một vài trường hợp có thể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Nhưng tác động tích cực không nhiều mà chủ yếu là tiêu cực vì vậy mà Chính phủ luôn tìm cách khắc phục lạm phát ở mức cho phép.
Với những tác động tiêu cực của lạm phát, chính phủ có thể thực hiện các giải pháp sau. Trước hết, với lạm phát do cầu kéo: khi lạm phát cao xảy ra, sản lượng thực tế vượt quá sản lượng tiềm năng, thì biện pháp giảm lạm phát là làm giảm tổng cầu, bằng cách: giảm chi tiêu của chính phủ, tăng thuế và giảm mức cung tiền tệ. Kết quả: mức giá giảm, sản lượng giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng. Với lạm phát do cung: phải làm tăng tổng cung bằng cách thông qua việc giảm chi phí sản xuất, giảm thuế, cải tiến kỹ thuật, tìm nguyên liệu mới mẻ hơn, hợp lý hóa sản xuất và tổ chức quản lý hữu hiệu hơn.
Kết quả: mức giá giảm, sản lượng tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm.