Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận. 123doc 3 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Mối quan hệ giữa biến động giá vàng và chính sách tiền tệ tại một quốc gia, vùng lãnh thổ dường như không phải là đề tài nghiên cứu nhiều hấp dẫn, do đó tác giả đã dành thời gian tìm kiếm lâu dài nhưng số lượng các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến vấn đề này tương đối hạn chế. CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI: 2. Nghiên cứu “The price of Gold and Monetary Policy” – Giá vàng và chính sách tiền tệ của W.Lastrapes và George Selgin (1996): Nghiên cứu sử dụng mô hình SVAR phân tích mối liên hệ của giá vàng và chính sách tiền tệ tại Mỹ với nội dung chính như sau: Các biến sử dụng trong mô hình: ⎛ ⎞ = ⎜ ⎜ ⎟ ⎟ ⎜ ⎟ ⎝ ⎠ Trong đó: y là tổng sản lượng đầu ra, p là chỉ số giá tiêu dùng, r là lãi suất dài hạn (tác giả chọn lãi suất trái phiếu 10 năm của Mỹ), cp là chỉ số giá nguyên- nhiên-vật liệu, g là giá vàng, tr là tổng dự trữ ngân hàng, fr là lãi suất ngắn hạn của Fed.
Mô hình kinh tế được xây dựng có dạng: = +. + + , (1) 123doc 4 Trong đó, u là vector 7x1 của dãy số không tương quan, những cú sốc ngoại sinh tiềm ẩn, và E ′ = Ω giả sử là đường chéo, thì ma trận A (7x7) có a trong mỗi yếu tố đường chéo của nó. Ma trận A , i = 0, … , p, chứa cấu trúc thông số đo lường tương quan động, trong khi các yếu tố của u thì giải thích cho sự đổi mới cơ bản thuộc về kinh tế đến các quy tắc quyết định của doanh nghiệp và điều kiện cân bằng thị trường (ví dụ cú sốc cung và cầu). Hàng thứ 5 đại diện cho giá vàng cân bằng, vì vậy đếm các cú số ngoại sinh đến cung và cầu vàng.
Hàng thứ 6 thể hiện nhu cầu ngành tài chính trong tổng dự trữ, hàng cuối cùng là chức năng chính sách của quỹ dự trữ liên bang, đó là cung của dự trữ ngân hàng. Cú sốc cuối cùng, được hiểu như là một cú sốc chính sách ngoại sinh, ví dụ sự nhấn mạnh vào nghiên cứu phân tích thực nghiệm trong các nghiên cứu dẫn truyền chính sách tiền tệ. Tác giả phân tích 2 nội dung sau để tìm vai trò của vàng. Đầu tiên là tính đàn hồi của chính sách tiền tệ với kỳ vọng thay đổi trong giá vàng, đại diện bởi hệ số tương ứng trong hàng cuối cùng của A.
Thứ hai là phản ứng cân bằng động của các biến dự trữ thị trường khác nhau đến cú sốc ngoại sinh trong giá vàng ( ). Tác giả không giới hạn phản ứng tức thời của những biến khác trong hệ thống tỷ lệ quỹ dự trữ liên bang trong mô hình này. Chuỗi dữ liệu thực nghiệm hàng tháng được lấy từ tháng 12/1982 đến hết tháng 11/1995 với độ trễ được chọn cho VAR ổn định là độ trễ 6. Các phân tích rút ra từ mô hình VAR trên chuỗi dữ liệu thực nghiệm thu được như sau: - Lãi suất ngắn hạn của Fed tăng 74 điểm cơ bản làm cho cung tổng dự trữ tăng 1%.
- Một cú sốc tăng giá vàng thực 2% làm cho lãi suất ngắn hạn của Fed tăng 10 điểm cơ bản sau 12 tháng và giảm dự trữ ngân hàng. Điều này ngụ ý rằng Fed thật sự có thay đổi cung dự trữ để đáp ứng với sự thay đổi trong giá vàng, phản ứng tồn tại trong khoảng vài tháng. 123doc 5 - Phản ứng của Fed với cú sốc giá tiêu dùng cũng giống như cú sốc giá vàng tuy nhiên thể hiện mạnh hơn và tức thời hơn. - Các cú sốc giá vàng dẫn tới sự gia tăng chỉ số giá hàng hóa, và Fed phản ứng dựa trên giá cả hàng hóa là chủ yếu.
Điều đó, nó có thể là do phản ứng của chính sách với giá vàng là một tác động gián tiếp, và vàng không có vai trò độc lập trong việc hình thành chính sách. Tuy nhiên, giá cả hàng hóa đáp ứng nghịch trong ngắn hạn những cú sốc vàng. Tác động của vàng lên cầu dự trữ không mạnh, vì nó dẫn tới một phản ứng thuận chiều giữa phản ứng cân bằng của dự trữ và lãi suất ngắn hạn của Fed. Điều này dẫn đến nhận định rằng vàng đóng một vai trò độc lập trong việc hình thành chính sách tiền tệ.
Sau các phân tích thực nghiệm của mình, tác giả kết luận chung rằng, tại Mỹ, giá vàng độc lập với chính sách tiền tệ. Nghiên cứu “Gold price and Inflation” – Giá vàng và lạm phát của Greg Tkacz (2007): Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính phân tích dữ liệu giá vàng và lạm phát từ năm 1994 đến năm 2005 tại 14 quốc gia gồm Mỹ và các quốc gia OECD, một số quốc gia ngoài OECD (Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Isreal) kết luận được rằng giá vàng dẫn đến lạm phát tại nhiều quốc gia lên đến 2 năm và là một chỉ số đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia OECD theo đuổi lạm phát mục tiêu. CÁC NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM: 2. Nghiên cứu “Monetary Policy in Vietnam: Evidence from a Structural VAR” – Chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng từ mô hình cấu trúc VAR của PhD.
Ky Viet Tran – World Bank (04/2009): Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển nơi mà có sự thay đổi lớn trong cấu trúc kinh tế trong thời gian ngắn. Những đặc điểm này làm phức tạp các nghiên cứu 123doc 6 kinh tế thực nghiệm. Vì vậy, nên lựa chọn mô hình kinh tế phù hợp với cấu trúc dễ bị phá vỡ với giai đoạn ngắn. Vì kích thước thời gian ngắn, các phá vỡ cấu trúc và tự nhiên mở ra nhanh chóng mà đặc trưng cho các nền kinh tế đang chuyển đổi, bao gồm Việt Nam, tác giả không ngụ ý đề cập sự hội nhập kỹ thuật.
Tác giả mở rộng thảo luận về vai trò của vàng trong chính sách tiền tệ từ một phương trình cân bằng đến mô hình VAR và rộng hơn đến mô hình SVAR. Say đây là những lý do lựa chọn mô hình VAR và SVAR: - Các mô hình này phù hợp với nền kinh tế mà có nhiều sự phá vỡ cấu trúc. - Sự giới hạn trong dữ liệu sẵn có hạn chế việc sử dụng các mô hình lớn. - Các mô hình này có khả năng mô tả được các phản ứng động.
Nghiên cứu sử dụng mô hình VAR và SVAR phân tích vai trò của vàng trong chính sách tiền tệ tại Việt Nam. Trong đó, tác giả phân tích tác động qua lại giữa các biến: tăng trưởng cung tiền (Mt), chỉ số giá tiêu dùng (CPIt), chỉ số tỷ giá hối đoái VND/USD theo công bố của NHNN (ER ), khe hở chỉ số sản xuất công nghiệp GINDt, % khe hở giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới đổi sang USD (GAP ) Mô hình VAR cơ bản được tác giả sử dụng trong nghiên cứu: Yt = A1yt-1 + A2yt-2 + … + Apyt-p + ut Trong đó, yt = (y1t,…,ykt)’ là ma trận vector (k x 1) của chuỗi dữ liệu thời gian, A là các biến của ma trận, kích thước ma trận (k x k); ut = (u1t, …ukt)’ là một vector sai số không xác định của các thời kỳ. Mô hình SVAR tác giả sử dụng trong nghiên cứu: Ay = A∗ y + A∗ y + ⋯ + A∗ y + Bε Chuỗi dữ liệu phân tích từ tháng 01/1993 đến tháng 12/2002 và thu được các kết luận chính như sau: Kết luận về phản ứng của chính sách tiền tệ đối với các cú sốc: 123doc 7 - Cú sốc CPI làm cho cung tiền M2 phản ứng nghịch chiều nhưng biến mất sau 4 tháng. Kết quả này là chắn chắn vì việc ổn định một số chỉ tiêu giá cả là một phần của NHNN.
- M2 có bước nhảy đột ngột để phản ứng với cú sốc. Điều này chắc chắn vì M2 tăng là tín hiệu quan trọng liên quan đến tình trạng tài khoản ngoại tệ của các ngân hàng ở Việt Nam. - Cú sốc trong khe hở giá vàng dẫn đến tăng tức thời M2, và nó nhanh chóng tự điều chỉnh lại ngay sau đó. Kiểu phản ứng này tương tự với phản ứng của NHNN như trong đề cập của mô hình McCallum.
Một số kết luận khác: - Trong mô hình SVAR: 80% biến động của CPI được giải thích bởi chính nó, và 12% được giải thích bởi M2, 6% được giải thích bởi GAP , và 3% được giải thích bởi ER. Như vậy, nghiên cứu tìm thấy được tác động của lạm phát đến cú sốc M2, ER , GAP. Trong khi không tìm thấy tác động nào từ ER đến các thay đổi trong CPI. - Cũng trong mô hình SVAR, 84% thay đổi của ER được giải thích bởi chính nó, 10% được giải thích bởi GAP.
- Tác động của cú sốc giá vàng trên lạm phát và tỷ giá hối đoái trong mô hình SVAR cung cấp bằng chứng để NHNN tin rằng giá vàng có quan hệ với tỷ giá hối đoái và lạm phát. - Toàn bộ biến động của GAP được giải thích bởi chính nó. Như vậy NHNN có thể sử dụng GAP như một chỉ báo lạm phát. - CPI giải thích 37% biến đối của M2 trong mô hình SVAR (trong mô hình VAR là 4.4%) - Mô hình SVAR cung cấp cho ta các mối liên hệ hợp lý hơn giữa chính sách tiền tệ và lạm phát.
Paper “Inflationary Implication of gold price in Vietnam” tác động của giá vàng đến lạm phát tại Việt Nam của Nguyễn Thị Kim Cúc 2013: Nghiên cứu sử sụng mô hình MS-VAR phân tích dữ liệu từ tháng 01/2001 đến tháng 12/2011, và đi đến kết luận chung giá vàng như một chỉ số dẫn đến lạm phát tại Việt Nam với mức độ ngày càng nghiêm trọng, và chính phủ Việt Nam có sự thay đổi trong chính sách để đối phó với sự thay đổi của khe hở giá vàng trong nước và giá vàng thế giới. Nhận xét chung: Tóm lại, sau khi tham khảo các nghiên cứu trước đây liên quan đến nội dung đề tài và tham khảo một số tài liệu lý thuyết về mô hình kinh tế định lượng, tác giả rút ra được một số điểm như sau: Phương pháp chủ yếu sử dụng để phân tích các yếu tố kinh tế vĩ mô liên quan nhiều đến chính sách tiền tệ là phương pháp tự hồi quy vector VAR hoặc SVAR.