CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH KE HOẠCH “MADE IN CHINA 2025” 1. Bối cảnh thế giới và khu vực từ sau Chiến tranh Lạnh đến trước 2015 1. Bối cảnh thế giới Trở lại những năm 1990, sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc và Liên Xô tan rã, bối cảnh chung của thế giới là phát triển kinh tế thay thế cho đối đầu quân sự, một làn sóng xây dựng kinh tế đã được bắt đầu trên phạm vi toàn cầu. Nhật Bản bị buộc phải ký "Hiệp định Plaza" vì đầu cơ tài chính và đầu cơ bất động sản, bong bóng bắt động sản đã trực tiếp gây thiệt hại lớn cho sức sống của nó, ngành sản xuất của Nhật Bản cũng chịu tác động không thể tránh khỏi.
Bốn con hé châu A bị hạn chế nhiều bởi quy mô nhỏ của khu vực, cộng với việc thiếu tài nguyên và chi phí lao động tăng cao, việc xây dựng các nhà máy trong khu vực đã trở thành một điều xa xỉ. Trong tình hình chung của thé giới, hoặc các nước phát triển như Hoa Kỳ va Nhật Bản đang phải đối mặt với vẫn đề của chính họ; hoặc các nước đang phát triển như các nước Đông Nam Á, các nước Nam Mỹ và Châu Phi đang trong hỗn loạn, không phải là lựa chọn tốt nhất, dé xây dựng nhà máy. Vào thời điểm nay, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập quốc tế nồi lên mạnh mẽ. Các siêu cường như Mỹ, Nhật Bản, châu Âu thiết lập quan hệ đối tác chiến lược.
Theo Thỏa thuận Marrakesh 1994, đến năm 2000, 164 nước là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, cam kết mở cửa thị trường. Bên cạnh đó, đầu tư cho R&D toàn cầu cũng tăng vọt lên 2.200 tỷ USD vào 2016 theo Ngân hàng Thế giới. Xu thế này lôi cuốn hầu hết các quốc gia tham gia, bất luận ở trình độ phát triển nào. Ngoài ra, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới phát triển với tốc độ rất nhanh.
Nền kinh tế thế giới đang trong bước chuyên sang kinh tế trí tuệ, xu thế này không còn chỉ là vấn đề riêng của các nước phát triển mà còn có những ảnh hưởng lớn đến các nước đang phát trién. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, chi tiêu quân sự toàn cầu giảm mạnh từ 1.650 tỷ USD năm 1990 xuống 1.450 tỷ USD vào năm 2000. Tuy nhiên, cùng thời điểm đó, thế giới chứng kiến sự nổi lên của các cường quốc mới như Trung Quốc, Ấn Độ. Theo Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Trung Quốc giai đoạn 1990-2000 đạt 10%, của Án Độ đạt 6%.
Bên cạnh đó, các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo vẫn tiềm ân nhiều nguy cơ đe doa an ninh toàn cầu. Minh chứng là hơn 50 cuộc nội chiến, xung đột vũ trang đã nồ ra trong thập niên 1990, theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế. Cố ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã từng đưa ra những dự báo: “. Các nước lớn đã đi đến cham dứt chiến tranh lạnh, cham dứt chạy đua vũ trang, mở ra thời kỳ hòa hoãn, giảm các kho vũ khí, đấu tranh và hợp tác trong cuộc chạy đua kinh tế.
Cuộc đấu tranh và hợp tác trong cuộc chạy đua toàn cầu về kinh tế sẽ là hình thức đấu tranh chủ yếu trên thế giới với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang làm thay đôi rất to lớn hàng năm nền kinh tế thế giới. Các dân tộc chậm phát triển trên thế giới sẽ đứng trước những thời cơ rất lớn cũng như những thách thức rất lớn. Hoặc các nước này có thể bỏ qua giai đoạn công nghiệp hóa dé đi thăng vào thời đại thông tin và đưa nền kinh tế phát triển rất nhanh chóng trong 20 năm. Hoặc các nước này lỡ cơ hội và sẽ bị tụt hậu rất xa" [Nguyễn Cơ Thạch, 1998].
Bối cảnh khu vực Chau A — Thái Bình Dương và khu vực Đông Bắc A Sau Chiến tranh Lạnh, khu vực châu Á-Thái Bình Dương (CA — TBD) bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ và là một trong những khu vực tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Cụ thể, từ năm 1991 đến năm 2000, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của khu vực đạt 6,3%, gấp đôi so với mức trung bình toàn cầu là 3%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ sự bùng nỗ thương mại được thúc day bởi xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế khu vực. Cụ thé, kim ngạch thương mại của các nước ASEAN đã tăng gấp 3 lần trong 10 năm, từ 240 tỷ USD năm 1990 lên 720 tỷ USD vào năm 2000.
Bên cạnh tăng trưởng kinh tế, chỉ tiêu quốc phòng của các nước châu Á-Thái Bình Dương cũng giảm đáng kể. Xu xu hướng hợp tác và phát triển đang dần thay thế cho đối đầu quân sự, biến châu Á-Thái Bình Dương trở thành một trong những khu vực bình yên và phát triển nhất thế giới thời 10 bay giờ. Tuy nhiên, bước sang thế kỉ 21, an ninh của thé giới nói chung và khu vực CA-TBD nói riêng luôn được đặt trong tình trạng báo động cao. Bên cạnh các cường quốc như Mỹ, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ thì Trung Quốc cũng là một nước có sức ảnh hưởng lớn.
Các điểm nóng từ thời Chiến tranh Lạnh còn tồn tại cho đến nay như bán đảo Triều Tiên hay eo biển Đài Loan vẫn chưa được giải quyết. Ngoài ra, sự có mặt và hoạt động của các nhóm Hồi giáo vũ trang cực đoan ở Philippines, Indonesia và Thái Lan luôn là những yếu tố gây mat an ninh và 6n định chính trị trong khu vực. Xét ở địa vực nhỏ hơn, về mặt địa sinh học, Đông Bắc Á là một khái niệm địa lý bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ va Viễn Đông Nga. Mặc dù trước thời hiện đại, các quốc gia trong khu vực đã rất thường xuyên trao đối kinh tế và văn hóa, nhưng sau Thế chiến II, bị anh hưởng bởi các vấn đề lịch sử và mô hình lưỡng cực Hoa Kỳ-Liên Xô, các quốc gia Đông Bắc Á trong một thời gian dai bị cô lập, trao đổi kinh tế và thương mại ít hơn, hợp tác khu vực gần như không diễn ra.
Sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, với sự thay đổi của mô hình quyền lực và tái thiết lập quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực, hợp tác khu vực Đông Bắc Á đã được đưa ra bàn bạc, và chủ nghĩa khu vực bắt đầu nảy mam phát triển. Sau Chiến tranh Lạnh, các nước Đông Bắc A bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ dưới tác động của xu thế hòa bình và toàn cầu hóa. Theo số liệu thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, từ năm 1990 đến 2000, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của các nên kinh tế Đông Bắc Á đều ở mức cao, cụ thể Hàn Quốc đạt 6,3%, Đài Loan đạt 6,1%, Hồng Kông đạt 4,6%. Con sé nay cho thay su phat trién vượt bậc của khu vực sau Chiến tranh Lạnh.
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập kinh tế khu vực cũng diễn ra sôi động. Sự phụ thuộc vào nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực cũng ngày càng gia tăng. Đây chính là động lực thúc đây các nước Đông Bắc Á tích cực tìm kiếm các cơ hội hợp tác, mở rộng thị trường, qua đó đóng góp tích cực vào xu thế toàn cầu hóa kinh tế. Tuy nhiên, kinh tế Đông Bắc Á phát triển muộn hơn so với khu vực châu Âu và bắt đầu khá chậm, quá trình hội 11 nhập cũng có khoảng cách lớn và hình thành muộn hơn.
Sau những năm 1990, mối liên kết kinh tế và thị trường ở các khu vực khác nhau của Đông Á ngày càng chặt chẽ, thị trường thương mại tự do phát triển. So với tình hình phát triển kinh tế của khu vực châu Âu và châu Mỹ, khu vực kinh tế Đông Bắc Á luôn ở mức độ phát triển thấp hơn; lý thuyết kinh tế chính trị quốc tế của khu vực này không hoàn hảo, ở mức thấp và đang trong quá trình phát trién, ở giai đoạn đầu dù có duy trì tốc độ phát triển nhanh thì trong tương lai cũng phải mắt nhiều thời gian mới đạt tới giai đoạn nâng cao [Zheng, B. Lý luận về sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quéc]19. Sau cuộc khủng hoảng tài chính chau A, sự trao đổi kinh tế giữa các khu vực khác nhau ở Đông Bắc Á đã trở nên chặt chẽ hơn trước, tuy nhiên vẫn ở giai đoạn đầu của khu vực phát triển thương mại tự do; loại hình giao dịch kinh tế tương đối đơn lẻ, chức năng còn thiếu và vẫn còn một chặng đường dài phía trước.
Trong quá trình phát triển kinh tế ở Đông Bắc Á có nhiều cấp độ hợp tác khác nhau, một sô nước tham gia nhiều cấp độ dẫn đến sự chồng chéo. Xét về thị trường khu vực của nền kinh tế Đông Bắc Á, tổ chức thị trường khu vực tương đối lỏng lẻo và có sự cạnh tranh mất trật tự, chưa có quy định quản ly thị trường day đủ. Trong số đó, mặc dù các nhóm tô chức nói chung có trao đổi thương mại và hợp tác nhất định với nhiều quốc gia khác nhau nhưng họ thường mang tính định hướng và thiên vị đối với quốc gia của mình hơn là hợp tác công băng với nước ngoài theo đúng nghĩa; đạt được thương mại và hợp tác tự do thực sự trong nội bộ, nhưng áp dụng các chính sách hoàn toàn trái ngược đối với hợp tác bên ngoài và nhân sự phi quốc gia. Các tổ chức cũng tương đối lỏng lẻo và bản chất hợp tác thiên về định hướng trao đổi nhiều hon, tương tự như các diễn đàn.
Mặc dù sự tồn tại của các tô chức này có vai trò nhất định trong việc thúc day phát triển kinh tế nhưng nó cũng cản trở việc tăng cường sự gắn kết nội bộ giữa các khu vực, thúc đây hợp tác và phát triển khu vực tốt hơn, khả năng cạnh tranh với bên ngoài và thúc đây hội nhập kinh tế. Bối cảnh Trung Quốc từ sau Chiến tranh Lạnh đến trước 2015 1. Tình hình trong nước 1. Kinh tế: Sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, nền kinh tế Trung Quốc bước vào một giai đoạn phát triển mạnh mẽ và ồn định, đặc biệt là trong hai thập kỷ cuối thé kỷ 20 và đầu thế kỷ 21.