Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính của Doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng tình hình tài chinh tại Công ty TNHH Gas Công Nghiệp Bình Định. Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của Công ty Gas Công Nghiệp Bình Định. 123doc 3 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về hiệu quả tài chính 1. Khái niệm về hiệu quả. Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, mục tiêu lâu dài bao trùm của các doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận. Môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh thích hợp.
Công việc kinh doanh là một nghệ thuật đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược. Để hiểu được khái niệm hiệu quả cần xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng. “Hiệu quả của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”, nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó.2 Khái niệm hiệu quả tài chính doanh nghiệp Bản chất tài chính doanh nghiệp là hệ thống những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trinh hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội. Trên thực tế hiện nay, khi hiểu hiệu quả tài chính doanh nghiệp có hai quan điểm Quan điểm thứ nhất : hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc huy động, quản lý sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Quan điểm thứ hai: hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc huy động vốn, còn hiệu quả của việc quản lý sử dụng vốn là hiệu quả kinh doanh Luận văn đứng trên quan điểm thứ nhất. Ý nghĩa của việc phân tích hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Mục đích của phân tích hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Phân tích tài chính có thể được hiểu như quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu tài chính hiện hành và quá khứ, nhằm mục đích đánh giá, dự tính các rủi ro tiềm ẩn 123doc 4 trong tương lai phục vụ cho các quyết định tài chính của doanh nghiệp.
Mặt khác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của nhiều đối tượng quan tâm đến những khía cạnh khác nhau về tài chính của doanh nghiệp để phục vụ cho những mục đích của mình. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Phân tích tình hình tài chính nhằm mục tiêu - Tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh quá khứ, tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp. - Định hướng các quyết định của ban giám đốc như: quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức, cổ phần… - Là cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, phần ngân sách tiền mặt,… - Là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý. Đối với đơn vị chủ sở hữu: Họ cũng quan tâm đến lợi nhuận và khả năng trả nợ, sự an toàn của tiền vốn bỏ ra, thông qua phân tích tình hình tài chính giúp họ đánh giá hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, khả năng điều hành hoạt động của nhà quản trị để quyết định sử dụng hoặc bãi miễn nhà quản trị, cũng như quyết định việc phân phối kết quả kinh doanh.
Đối với nhà chủ nợ (Ngân hàng, các nhà cho vay, nhà cung cấp). Mối quan tâm của họ hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Do đó họ cần chú ý đến tình hình và khả năng thanh toán của đơn vị cũng như quan tâm đến lượng vốn của chủ sở hữu, khả năng sinh lời để đánh giá đơn vị có khả năng trả nợ được hay không khi quyết định cho vay, bán chịu sản phẩm cho đơn vị. Đối với nhà đầu tư trong tương lai: Điều mà họ quan tâm đầu tiên, đó là sự an toàn của lượng vốn đầu tư, kế đó là mức độ sinh lãi, thời gian hoàn vốn.
Vì vậy họ cần những thông tin về tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh, tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Do đó họ thường phân tích báo cáo tài chính của đơn vị qua các thời kỳ, để quyết định đầu tư vào đơn vị hay không, đầu tư dưới hình thức nào và đầu tư vào lĩnh vực nào. 123doc 5 Đối với cơ quan chức năng: Như cơ quan thuế, thông qua thông tin trên báo cáo tài chính xác định các khoản nghĩa vụ đơn vị phải thực hiện đối với nhà nước, cơ quan thống kê tổng hợp phân tích hình thành số liệu thống kê, chỉ số thống kê,… 1. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả tài chính cho Doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh và có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy phải thường xuyên, kịp thời kiểm tra đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp.
Việc phân tích tài chính có ý nghĩa sau: Qua phân tích tình hình tài chính mới đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình phân phối, sử dụng quản lí các loại vốn, các nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp cho doanh nghiệp cũng cố tốt hơn hoạt động tài chính của mình. Phân tích tình hình tài chính là công cụ không thể thiếu phục vụ cho công tác quản lí của cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính và các ngân hàng như: đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chính của nhà nước, xem xét việc cho vay vốn. Nội dung phân tích hiệu quả tài chính Doanh nghiệp.
Chỉ tiêu về khả năng thanh toán 1.1 Tình hình các khoản phải thu và các khoản phải trả. Các khoản phải thu của doanh nghiệp bao gồm: nợ phải thu, tạm ứng và các khoản ký quỹ, ký cược ngắn hạn tức là khoản doanh nghiệp bị đơn vị khác chiếm dụng. Các khoản phải trả bao gồm: vay và nợ ngắn hạn, phải trả người bán, phải trả nội bộ…Để đánh giá khoản này thông qua các chỉ tiêu Công thức: = = 123doc 6 = 1. Chỉ tiêu khả năng thanh toán a.
Khả năng thanh toán tổng quát Hệ số thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lí sử dụng với tổng nợ phải trả (nợ ngắn hạn, nợ dài hạn…) Công thức: Tổng tài sản Khả năng thanh toán tổng quát = Tổng nợ ngắn hạn Nếu hệ số này bằng 1 là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp. trên thực tế, nếu hệ số này bằng 1 hoặc gần bằng 1 có nghĩa là vốn CSH không có hoặc bọ mất toàn bộ. Nếu bán toàn bộ tài sản hiện có (tài sản lưu động và tài sản cố định) sẽ không đủ trả số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp được sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động với nợ ngắn hạn.
Đó là quan hệ giữa tổng tài sản với tổng nợ sắp hết hạn. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải thanh toán trong kì, do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình để thanh toán bằng cách chuyển đổi một bộ phận tài sản thành tiền. trong tổng tài sản mà doanh nghiệp hiện đang quản lí và sử dụng thì chỉ có tài sản lưu động là trong kì có thể dễ dàng hơn khi chuyển đổi thành tiền. Công thức: Tổng tài sản lưu động Khả năng thanh toán hiện hành = Tổng nợ ngắn hạn Nhận xét: HSTTHH cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Từ đó do lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp. 123doc 7 Tính hợp lí của hệ số phản ánh khả năng thanh toán nợ ngắn hạn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh. Nghề nào mà tài sản lưu động chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tài sản thì hệ số này lớn và ngược lại. Nếu tỷ số này giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm và cũng là dấu hiệu báo trước về những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra.
Khi tỷ số này có giá trị cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng thanh khoản cao. Tuy nhiên tỷ số này có giá trị quá cao, thì có nghĩa là có thể doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào ngắn hạn, việc quản trị TSLĐ của doanh nghiệp không hiệu quả bởi có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi, có nhiều hàng tồn kho hay có quá nhiều nợ phải đòi…Do đó có thể làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhƣợc điểm. Trong nhiều trường hợp khả năng thanh toán hiện hành phản ánh không chính xác khả năng thanh khoản.
Một doanh nghiệp nếu dự trữ nhiều hàng tồn kho thì sẽ có tỷ số KNTTHH cao. Mà ta biết hàng tồn kho là tài sản khó hoán chuyển thành tiền, nhất là hàng ứ đọng kém phẩm chất c. Khả năng thanh toán nhanh. Các tài sản mang đi thanh toán cho chủ nợ đều phải chuyển đổi thành tiền.
khả năng thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những TSNH có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao gồm TSLĐ trừ hàng tồn kho, vì ta đã biết hàng tồn kho là tài sản khó chuyển đổi thành tiền, nhất là hàng ứ đọng, kém phẩm chất. Công thức: Hệ số thanh toán nhanh = Nhận xét: HSTTN cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ, nó phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp trong ngắn hạn.