CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 1.1 Tổng quan về DNCN 1.1 Khái niệm, vai trò của sản xuất công nghiệp a. Khái niệm công nghiệp Công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật.
(Nguồn WiKipedia) Theo cách phân ngành của Tổng cục Thống kê, công nghiệp được phân thành ba nhóm ngành: Công nghiệp khai thác, chế biến và công nghiệp điện - khí - nước. Doanh nghiệp công nghiệp DNCN là đơn vị cơ sở thực hiện một hay một số chức năng: Khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến sản phẩm, khai thác (nông, lâm, hải sản) và hoạt động phục vụ có tính chất công nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm công nghiệp để cung cấp cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Như vậy, DNCN là một tế bào của nền kinh tế quốc dân thuộc ngành sản xuất đa dạng và năng động, góp phần làm tăng tổng cung, đáp ứng tổng cầu của xã hội. [12,15] DNCN là danh từ chung cho các loại hình tổ chức sản xuất CN có hạch toán kinh tế độc lập như nhà máy, xí nghiệp, công ty cổ phần, công ty TNHH một hay nhiều thành viên.
Đặc điểm của DNCN DNCN có những đặc trưng cơ bản về mặt kỹ thuật sản xuất, cũng như đặc trưng kinh tế - xã hội khác với các loại hình DN khác ở các khía cạnh chủ yếu sau: 5 - Trong các DNCN, quá trình sản xuất chủ yếu là quá trình tác động trực tiếp bằng phương pháp cơ hóa, lý hoá của con người thông qua công nghệ sản xuất nhất định, làm thay đổi các đối tượng lao động thành các sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người. - Sản phẩm của các DNCN có khả năng đáp ứng nhiều loại nhu cầu khác nhau ở các trình độ ngày càng cao của xã hội, là hoạt động duy nhất tạo ra các sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong các ngành kinh tế. Sản xuất của DNCN Hoạt động SXKD của DNCN gồm hai loại hoạt động chủ yếu: hoạt động SXKD sản phẩm CN và hoạt động SXKD khác. Hoạt động SXKD chính quyết định việc đặt tên và thương hiệu cho, xếp DN đó vào một ngành CN cụ thể.
Vai trò của DNCN Trong quá trình công nghiệp hóa, mục tiêu đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước CN phát triển theo hướng hiện đại, DNCN là nhân tố định hướng phát triển các ngành kinh tế và tạo những điều kiện vật chất để thực hiện mục tiêu đó. Tuy CNH - HĐH không đồng nhất với phát triển CN và phát triển DNCN, nhưng DNCN là phương tiện truyền tải những thành tựu mới của khoa học công nghệ tới tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, là hình mẫu để cải tạo nền kinh tế quốc dân.2 Cơ sở lý luận phát triển DNCN a. Phương diện đánh giá DNCN */ DNCN thường được đánh giá trên các phương diện: Tài chính; Hiệu quả sử dụng nguồn lực; Nghiên cứu và triển khai; Công nghệ */ Khả năng vận dụng và mức độ hợp lý của một phương pháp đánh giá DNCN tuỳ thuộc vào: - Mục đích sử dụng của kết quả đánh giá -Tính sẵn có của số liệu thống kê 6 - Năng lực xử lý mô hình, kỹ thuật thống kê của đội ngũ triển khai - Đặc trưng kinh tế b. Nội dung phát triển DNCN */ Khái niệm phát triển DN: Phát triển DN là một cụm từ bắt đầu được sử dụng ở nước ta trong những năm 1990 và sử dụng rộng rãi hơn từ năm 2000 đến nay.
Trong đó, phát triển DN có hàm nghĩa nhiều hơn về khu vực KTNQD mà trọng tâm là về khu vực KTTN - một khu vực được khởi phát từ năm 2000, sau khi Luật DN lần đầu được ban hành năm 1999, có hiệu lực. Phát triển DN cũng gắn một phần với khu vực DNNN nhưng luôn đi kèm với các từ “sắp xếp”, “đổi mới” mà không phải là một cụm từ độc lập như khi áp dụng với khu vực KTNQD. Phát triển là một phạm trù cần được nhìn nhận từ góc độ triết học. Theo đó, phát triển không phải đơn thuần là sự tăng lên hay giảm đi về lượng như theo quan điểm siêu hình.
Nghĩa là, theo quan điểm siêu hình thì sự phát triển là một sự tiến lên liên tục không có những thăng trầm, quanh co, không có sự thay đổi gì về chất của sự việc, hiện tượng. Ngược lại, phát triển cần được xem xét, nhìn nhận dựa trên quan điểm biện chứng. Theo đó, phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng. Đó là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kèm hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Từ những sự phân tích trên, phát triển DN là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Vì vậy, phát triển về thực chất là sự gia tăng về số lượng DN, sự nâng cao về chất lượng DN, sự thay đổi về cơ cấu theo chiều hướng tích cực, phù hợp với yêu cầu, điều kiện của thực tiễn. [12,25] */ Nội dung phát triển DNCN: 7 Nội dung phát triển DNCN trên địa bàn thành phố Hải Phòng sẽ tập trung vào một số nội dung chính dựa trên hai góc độ là: Sự phát triển theo chiều rộng và chiều sâu. - Phát triển DN theo chiều rộng: là sự gia tăng về mặt số lượng, loại hình chất lượng DN đang hoạt động và DN giải thể, phá sản, ngừng hoạt động; quy mô trình độ lao động và quy mô vốn, trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ, trình độ quản lý DN cũng như doanh thu, lợi nhuận của DN.
- Phát triển DN theo chiều sâu: là sự nâng cao hiệu kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNCN; là hoạt động đầu tư thực hiện trên cơ sở cải tạo, nâng cấp đồng bộ hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất hiện có, hoặc xây dựng lại, hoặc đầu tư một dây chuyền công nghệ mới, nhưng công nghệ, kỹ thuật phải hiện đại hơn công nghệ kỹ thuật hiện có nhằm duy trì năng lực đã có. Các chỉ tiêu đánh giá phát triển DNCN */ Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả của DN - Số lượng cơ sở: là chỉ tiêu phản ánh quy mô tổng thể có bao nhiêu DN hoạt động trên địa bàn Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ càng có nhiều nhà đầu tư, nhiều chủ cơ sở lựa chọn mô hình hoạt động của loại hình kinh tế này. - Số lượng lao động làm việc tại các cơ sở tư nhân: là người làm công ăn lương, đóng góp sức lao động và chuyên môn để tạo ra sản phẩm cho các cơ sở và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo). - Nguồn vốn: là một trong những yếu tố đầu vào có vai trò hết sức quan trọng của mỗi DN, là cơ sở là tiền đề cho DN phát triển - Lợi nhuận sau thuế (LNST) thu nhập của DN là Lợi nhuận thuần (lãi hoặc lỗ) sau thuế từ các hoạt động của DN (sau khi trừ chi phí thuế thu nhập DN).
LNST= tổng lợi nhuận kế toán trước thuế trừ (-) chi phí thuế thu nhập DN. 8 - Nộp ngân sách: là các khoản thuế, phí và khoản nộp Ngân sách Nhà nước có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của các cơ sở KTTN. */ Nhóm chỉ tiêu hiệu quả, năng lực của DN - GTSX CN (GTSXCN) là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành CN tạo ra dưới dạng sản phẩm vật chất và dịch vụ trong thời gian nhất định, thường là một năm. GTSXCN bao gồm: Giá trị của nguyên vật liệu, năng lượng, phụ tùng thay thế, chi phí dịch vụ sản xuất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động, thuế sản xuất và giá trị thặng dư tạo ra trong cấu thành giá trị sản phẩm công nghiệp.
- Thu nhập bình quân của người lao động: Đây là chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng phản ánh mức thu nhập và cơ cấu thu nhập của người lao động trong khoảng thời gian nhất định, thường trong một năm. Thu nhập bình quân của người lao động cao giúp người lao động gắn bó với DN lâu dài sẽ là động lực to lớn giúp người lao động hăng say làm việc, cống hiến hết mình vì sự phát triển của DN. - Doanh thu thuần bình quân của người lao động: Chỉ tiêu này cho biết trung bình một người lao động trong một năm làm việc tại các DN tư nhân tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy năng suất lao động của người lao động càng cao.3 Vai trò của DNCN trong phát triển KT-XH 1.1 Vai trò về mặt kinh tế Một là, DNCN có vai trò quan trọng trong Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Việc phát triển các DNCN sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Trước tiên, đó là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thông qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công 9 nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh, phát triển DNCN giúp đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa. Hai là, DNCN đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. DNCN tăng trưởng và phát triển là một trong những yếu tố quyết định đến tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế những năm qua.
DNCN tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu. Ba là, DNCN thu hút vốn và khai thác các nguồn lực sẵn có trong dân cư.