CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN SẢN LƯỢNG VÀ LẠM PHÁT 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN 1. Các mục tiêu kinh tế vĩ mô 1. Mục tiêu tổng quát Thành tựu kinh tế vĩ mô của một đất nước thường được đánh giá theo 3 dấu hiệu chủ yếu: Ổn định, tăng trưởng và công bằng xã hội.
Sự ổn định kinh tế là kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề kinh tế cấp bách như lạm phát, suy thoái, thất nghiệp trong thời kỳ ngắn hạn. Nền kinh tế luôn luôn có xu hướng không ổn định. Vì vậy, với mục tiêu ổn định là làm sao cho sản lượng được duy trì ở mức sản lượng tiềm năng để đồng thời tránh được lạm phát và thất nghiệp. Tăng trưởng kinh tế là mong muốn làm cho tốc độ tăng trưởng của sản lượng đạt mức cao nhất mà nền kinh tế có thể thực hiện được.
Một nước có tốc độ tăng trưởng chậm thì có nguy cơ tụt hậu và nếu tăng trưởng nhanh thì có thể có khả năng đuổi kịp và vượt các nước đi trước. Muốn có được tăng trưởng thì cần phải có chính sách thúc đẩy quá trình tạo vốn, tăng năng suất lao động nhằm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế và tăng nhanh đến sản lượng tiềm năng. Công bằng trong phân phối vừa là vấn đề xã hội, vừa là vấn đề kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa được phân phối cho những người nhiều tiền mua nhất, chứ không phải theo nhu cầu lớn nhất.
Như vậy, ngay cả khi một cơ chế thị trường đang hiệu quả thì cũng có thể dẫn tới bất bình đẳng lớn. Do vậy cần phải có chính sách phân phối lại thu nhập để hàng hóa được phân phối một cách công bằng trong nền kinh tế. Mục tiêu cụ thể Để có thể đạt được sự ổn định, tăng trưởng và công bằng, các chính sách kinh tế vĩ mô phải hướng tới các mục tiêu cụ thể sau: Mục tiêu sản lượng: Sản lượng tiềm năng (Y ) là mức sản lượng mà một quốc gia đạt được trong N điều kiện toàn dụng nhân công và không gây ra lạm phát. Mục tiêu về sản lượng của các quốc gia là đạt được sản lượng thực tế cao tương ứng với mức sản lượng tiềm năng (Y = Y = Y*); tốc độ tăng trưởng sản lượng cao, N vững chắc và đảm bảo tăng trưởng trong dài hạn.
2 Mục tiêu việc làm: Mục tiêu quan trọng tiếp theo là mục tiêu liên quan đến việc tạo ra công ăn việc làm trong nền kinh tế. Mọi người lao động trong nền kinh tế đều có việc làm (nền kinh tế đạt toàn dụng nhân công: Tỷ lệ thất nghiệp thấp U ≈ U*) Nền kinh tế tạo được nhiều việc làm tốt, mang lại mức thu nhập cao cho người lao động, hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp, cơ cấu việc làm phù hợp. Mục tiêu giá cả: Mục tiêu tiếp theo là đạt được sự ổn định về giá cả trong nền kinh tế. Các mục tiêu về giá cả cụ thể là: Kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả trong điều kiện thị trường tự do; Duy trì mức lạm phát ổn định ở mức 2% - 5% (đây là mức lạm phát vừa phải, kích thích sản xuất); Chú ý đến vấn đề giảm phát.
Sự thay đổi trong mức giá chung gọi là tỷ lệ lạm phát; tỷ lệ này phản ánh tốc độ tăng/giảm của mức giá chung của thời kỳ này so với thời kỳ khác. Mức giá chung tăng → lạm phát Mức giá chung giảm → giảm phát Mục tiêu kinh tế đối ngoại Trong xu thế hội nhập, hầu hết các quốc gia đều hoạt động trong tình trạng mở cửa với thế giới, nền kinh tế có nhiều giao dịch với nước khác. Từ đó các mục tiêu về kinh tế đối ngoại mà các quốc gia hướng tới sẽ bao gồm: Ổn định tỷ giá hối đoái; Cân bằng cán cân thương mại; Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế; Mở rộng chính sách đối ngoại trong ngoại giao với các nước trên thế giới,… Mục tiêu về phân phối thu nhập: Phân phối thu nhập (income distribution) là sự phân chia thu nhập quốc dân cho các đầu vào nhân tố khác nhau (phân phối thu nhập theo chức năng, phân phối lần đầu) hoặc giữa người nhận được thu nhập từ các nhân tố sản xuất và những người khác (phân phối lại, tái phân phối thu nhập). Chính phủ thường tái phân phối thu nhập bằng cách đánh thuế vào người có thu nhập cao và trợ cấp cho người có thu nhập thấp.
Các mục tiêu phân phối thu nhập cụ thể gồm: Giảm khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm dân cư; Cơ hội tiếp cận công bằng với các nguồn lực. Các mục tiêu khác của năm 2020 bao gồm: Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 7%; Tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3%; Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 33-34% GDP; Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) giảm 1-1,5%, riêng các huyện nghèo giảm 4%; Tỷ lệ thất nghiệp của lao 3 động trong độ tuổi ở khu vực thành thị dưới 4%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt khoảng 25%; Số giường bệnh trên một vạn dân (không tính giường trạm y tế xã) đạt 28 giường bệnh; Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 90,7%; Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 90% và Tỷ lệ che phủ rừng đạt 42%. Sản lượng Trong thực tiễn, một trong những thước đo quan trọng nhất về tổng sản lượng của nền kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP là chỉ tiêu kinh tế quan trọng, được các nền kinh tế theo dõi rất chặt chẽ vì đó là chỉ tiêu phản ánh tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ kinh tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định.
Với nội hàm của chỉ tiêu GDP, các nhà hoạch định chính sách và ngân hàng nhà nước có thể đánh giá thực trạng nền kinh tế đang dư thừa hay thiếu hụt, liệu có cần thúc đẩy hay kìm chế, có các mối đe dọa như suy thoái hoặc lạm phát tràn lan không, từ đó kịp thời thực hiện các biện pháp cần thiết cho nền kinh tế quốc dân. Các nhà đầu tư chú ý đến GDP vì một tỷ lệ phần trăm thay đổi đáng kể trong GDP - tăng hoặc giảm - có thể có tác động đáng kể đến thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Ngoài ra, có thể dựa vào diễn biến của GDP để phân tích tác động của các biến số như chính sách tiền tệ và tài khóa, thuế, chi tiêu của chính phủ, các cú sốc kinh tế,. đến nền kinh tế làm cơ sở đưa ra các quyết định quản lý hiệu quả.
Tầm quan trọng của GDP là không thể phủ nhận. Samuelson và Nordhaus (1948) đã dùng hình ảnh ví khả năng của GDP trong việc cung cấp một bức tranh tổng thể về tình trạng của nền kinh tế như là khả năng của một vệ tinh trong không gian có thể khảo sát thời tiết trên toàn bộ lục địa. Lạm phát Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.
Công thức tính lạm phát: Trong đó: 4 là chỉ số nghiên cứu là chỉ số giá chung của thời kỳ được chọn làm gốc so sánh gp là tỷ lệ lạm phát của thời kỳ nghiên cứu (có thể là tháng, quý hoặc năm) 1. Phân loại lạm phát Căn cứ theo quy mô của lạm phát, lạm phát được chia làm 3 loại là lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát. Lạm phát vừa phải, hay còn gọi là lạm phát một con số, là lạm phát với tỷ lệ dưới 10%. Thông thường, đây là mức lạm phát mà một nền kinh tế trải qua và ít gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.
Lạm phát phi mã là loại lạm phát với tỷ lệ lên đến hai hoặc ba con số trong một năm. Như vậy, tốc độ tăng giá ở mức khá nhanh, nếu lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài thì sẽ gây ra những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến nền kinh tế. Siêu lạm phát là lạm phát xảy ra khi tỷ lệ lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát phi mã, từ ba đến bốn con số trở lên. Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc siêu lạm phát diễn ra và gây những tác động vô cùng nghiêm trọng và sâu sắc đến nền kinh tế.
Nguyên nhân Lạm phát cầu kéo xảy ra khi các thành phần của chi tiêu gia tăng khiến cho tổng cầu tăng, từ đó tác động làm cho sản lượng tăng và mức giá chung tăng gây ra lạm phát. Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi một số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ nền kinh tế. Các cơn sốc giá cả của thị trường đầu vào, đặc biệt là vật tư cơ bản như xăng, dầu, điện, tiền lương,. là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, tổng cung trong ngắn hạn giảm.
Khi có sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn lao động, suy giảm lượng tư bản, suy giảm trình độ công nghệ,.; những nhân tố này xảy ra sẽ khiến cả tổng cung trong ngắn hạn và dài hạn đều giảm. Kết quả là sản lượng giảm, thất nghiệp và lạm phát tăng. Lạm phát dự kiến còn được gọi là lạm phát ỳ, lạm phát quán tính. Lạm phát dự kiến là tỷ lệ lạm phát hiện tại mà mọi người dự kiến rằng nó sẽ tiếp tục xảy ra trong tương lai.
Lạm phát dự kiến được thể hiện bằng sự tăng lên của tổng cung và tổng cầu. Mức giá chung trong nền kinh tế tăng đều trong khi hoạt động sản xuất vẫn như cũ. Lạm phát tiền tệ xảy ra khi lượng tiền phát hành quá nhiều trong lưu thông gây mất cân đối giữa cung tiền và cầu tiền, làm cho sức mua của đồng tiền giảm hay đồng tiền bị mất giá (lạm phát). Hậu quả Lạm phát ảnh hưởng đến các nền kinh tế theo nhiều cách tích cực và tiêu cực khác nhau.