MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Với vai trò huyết mạch của nền kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) luôn được các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, quan tâm bởi đây chính là con đường ngắn nhất góp phần tăng tích lũy của cải, giải quyết gánh nặng nợ nần. Các quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù phát triển mức cao hay mức thấp, đều có khao khát thúc đẩy hoạt động XNK. Vì thế, Việt Nam trong quá trình đổi mới cũng coi xuất khẩu (XK) là động lực chính để phát triển kinh tế và hội nhập với thế giới.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 – 2030 [2.5], Việt Nam đã xác định rõ “Đẩy mạnh xuất khẩu, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do”, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và thực hiện các mục tiêu, định hướng đã đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Xuất phát từ vai trò vô cùng quan trọng của hoạt động XNK, các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, hiện nay bước vào một cuộc chạy đua thúc đẩy hoạt động XNK và tỷ giá hối đoái được xem là một trong những công cụ để tối ưu hóa mục đích này. Chính sách tỷ giá hối đoái (CSTGHĐ) là cầu nối giữa hoạt động kinh tế trong nước và kinh tế bên ngoài, có tác động đến mọi mặt hoạt động kinh tế của một quốc gia. Điều hành CSTGHĐ phù hợp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy năng lực cạnh tranh, tăng trưởng XK là những mục tiêu quan trọng được nhiều ngân hàng trung ương (NHTW) đặt ra.
Ngoài ra, CSTGHĐ còn ảnh hưởng đến tính hiệu quả của các chính sách kinh tế vĩ mô khác cũng như uy tín của Chính phủ với vai trò là cơ quan hoạch định chính sách kinh tế tối cao. Với tầm quan trọng của CSTGHĐ như vậy, nhiều nghiên cứu đã nỗ lực nhằm tìm ra CSTGHĐ tối ưu để tạo điều kiện thúc đẩy xuất khẩu, phát triển kinh tế không chỉ trên bình diện từng quốc gia đơn lẻ mà còn theo từng nhóm quốc gia, từng khu vực và toàn cầu. Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế và hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào sân chơi của khu vực và thế giới như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Cộng đồng Kinh tế chung ASEAN. CSTGHĐ luan an 2 của Việt Nam trong thời gian qua đã gắn liền với chính sách đổi mới, mở cửa hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới với những bước đi tương đối phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, thúc đẩy kinh tế đối ngoại, cải thiện tình trạng thâm hụt cán cân thương mại, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, trong điều kiện môi trường kinh tế khu vực và quốc tế thời gian qua có nhiều biến động lớn và phức tạp thì việc điều hành chính sách tỷ giá của Việt Nam cũng có những điều chỉnh. Vấn đề quan trọng cần được giải đáp, đó là chính sách tỷ giá của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua liệu có thực sự mang lại lợi thế đối với thương mại quốc tế (TMQT) nói chung hay XK nói riêng của Việt Nam sang thị trường Mỹ - thị trường XK lớn nhất của Việt Nam. Mỹ hiện là đối tác thương mại quan trọng nhất và ngày càng mở rộng của Việt Nam. Tại thị trường Mỹ, Việt Nam là nước đứng thứ 12 về quy mô XK và thứ 5 về quy mô thương mại [2.
XK của Việt Nam sang Mỹ trong những năm qua luôn thặng dư ở mức cao. Cũng chính vì vậy, gần đây nổi lên việc Mỹ quy kết Việt Nam thao túng tiền tệ, sử dụng công cụ tỷ giá để tạo lợi thế trong thương mại. Vậy thực tế CSTGHĐ tác động như thế nào đến XK của Việt Nam tại thị trường Mỹ? Mức độ và quy mô ra sao? Giải đáp cho những câu hỏi trên, luận giải về tính hợp lý hay sự tác động của chính sách tỷ giá đến nền kinh tế, trong đó có lĩnh vực XK trên thị trường Mỹ, trong mỗi thời kỳ và hoàn cảnh nhất định là cần thiết để góp phần cung cấp luận cứ quan trọng cho việc bác bỏ lập luận của Mỹ về vấn đề thao túng tiền tệ của Việt Nam hoặc để giúp Chính phủ có thể xây dựng, lựa chọn, điều chỉnh, và điều hành chính sách tỷ giá phù hợp, góp phần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động XK và tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu về chính sách tỷ giá có tính hấp dẫn và có ý nghĩa chính sách rất lớn nên đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về chủ đề này ở các góc độ khác nhau, chẳng hạn như tác động của chính sách tỷ giá đến tăng trưởng, công nghiệp hóa, XNK, cán cân thanh toán, lãi suất.
Ở phạm vi quốc tế, có nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về tác động của CSTGHĐ đến xuất khẩu, nhưng số công trình tập trung phân tích cho trường hợp điển hình ở Việt Nam còn hạn chế. Ở Việt Nam, cũng có một số nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực này nhưng đa phần nghiên cứu về tác động của biến động tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại, lạm phát và luan an 3 tăng trưởng kinh tế. Cũng có một vài nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái đến XK Việt Nam sang Mỹ nhưng mới chỉ phân tích đến một số nhóm hàng (nông sản, thủy sản) và ở giai đoạn trước năm 2018. Bên cạnh đó, những nhận định về mặt lý thuyết và các kết quả thực nghiệm từ các nghiên cứu đã công bố còn rất nhiều điểm chưa thống nhất về bản chất và xu hướng tác động của tỷ giá và chính sách điều hành tỷ giá đến hoạt động TMQT hay XK.
Thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua cũng cho thấy có những biểu hiện rất khác nhau về tương quan giữa CSTGHĐ và hoạt động XNK. Do đó, xét cả về mặt khoa học và thực tiễn, lý thuyết và thực nghiệm thì rõ ràng, thực trạng tác động của chính sách tỷ giá đến XK của Việt Nam là mối quan tâm lớn cả về phía cơ quan quản lý cũng như từ phía các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh XK. Vì thế, “Nghiên cứu tác động của chính sách tỷ giá đến xuất khẩu Việt Nam trên thị trường Mỹ” trở thành yêu cầu tất yếu và là đề tài nghiên cứu có tính cấp thiết để có giải pháp phát huy tác động tích cực, khắc phục tác động tiêu cực của chính sách tỷ giá đối với XK của Việt Nam sang thị trường Mỹ nhưng không để Mỹ quy kết Việt Nam thao túng tiền tệ và bán phá giá, tạo lợi thế cạnh tranh trong TMQT tại thị trường Mỹ. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Phân tích và đánh giá thực trạng tác động của CSTGHĐ đến XK hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Mỹ để từ đó đề xuất định hướng và giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm phát huy tác động tích cực của CSTGHĐ đến XK của Việt Nam tại thị trường Mỹ.
Mục tiêu cụ thể - Làm rõ được tổng quan về tình hình nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu của luận án. - Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của CSTGHĐ đến XK hàng hóa của quốc gia. - Trình bày được thực trạng CSTGHĐ của Việt Nam, tình hình XK của Việt Nam sang Mỹ và phân tích tác động của CSTGHĐ đến XK của Việt Nam tại thị luan an 4 trường Mỹ, từ đó đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của CSTGHĐ đến XK của Việt Nam tại thị trường Mỹ. - Đề xuất định hướng và khuyến nghị nhằm phát huy tác động tích cực của CSTGHĐ đến XK của Việt Nam tại thị trường Mỹ 3.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận án - Mối quan hệ giữa CSTGHĐ và XK là gì? Cơ chế tác động (kênh truyền dẫn) của CSTGHĐ đến XK như thế nào? - CSTGHĐ đã ảnh hưởng như thế nào đến XK của Việt Nam trên thị trường Mỹ giai đoạn 01/2008-03/2021? Chiều hướng và mức độ tác động như thế nào? - Phương hướng và giải pháp nào để phát huy tác động tích cực của CSTGHĐ đến XK của Việt Nam trên thị trường Mỹ giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2040. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động của CSTGHĐ đến XK của Việt Nam sang thị trường Mỹ - Phạm vi thời gian: Luận án tiến hành nghiên cứu với dữ liệu trong giai đoạn từ 01/2008 đến hết tháng 03/2021 và đề xuất giải pháp định hướng trong giai đoạn 2021-2030. Luận án chọn mốc thời gian bắt đầu nghiên cứu từ 2008 – mốc sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tham gia vào sân chơi chung toàn cầu (11/1/2007) và cũng là mốc thời gian xảy ra khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu với sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, sự mất giá tiền tệ ở nhiều nước trên thế giới. - Phạm vi không gian: Luận án tiến hành nghiên cứu tác động của CSTGHĐ đến XK của Việt Nam trên thị trường Mỹ - Phạm vi nội dung: Ở góc độ nội dung, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau: Thứ nhất, XK có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như XK hàng hóa, XK dịch vụ, XK lao động, XK vốn, XK công nghệ… Tuy nhiên, Luận án chỉ tập trung nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn về XK hàng hóa và sự tác động của CSTGHĐ đến XK hàng hóa của một quốc gia.
luan an 5 Thứ hai, tùy theo điều kiện kinh tế xã hội của nước XK và nước nhập khẩu cũng như bối cảnh chung của thế giới mà hoạt động XK của một quốc gia có thể có những mặt hàng hay nhóm mặt hàng khác nhau.