LỜI MỞ ĐẦU 1. Vấn đề nghiên cứu: Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế GDP giai đoạn từ năm 2013 – 2015 là 5,5%, lạm phát được kiểm soát ở mức 7%-8%, thực tế những năm qua lạm phát luôn ở mức trên 8%. Ngày 21 tháng 5 năm 2013, diễn ra hội thảo khoa học ở Hà Nội dưới sự chủ trì của Thứ Trưởng Cao Viết Sinh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với chuyên đề được báo cáo “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, nhóm báo cáo gồm Đào Văn Hùng, Nguyễn Thạc Hoát và nhóm nghiên cứu Học viện Chính sách đã cho thấy từ năm 1991 – 2012 Việt Nam đã vượt qua hết tất cả các nước trong khu vực một chỉ tiêu đó là “Lạm phát”. Bởi vậy, ngày 28/6/2013, tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2013, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh mục tiêu giai đoạn tới vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Điều đó cho thấy lạm phát vẫn là vấn đề trọng yếu mà các nhà hoạch định chính sách cũng như các chuyên gia kinh tế luôn phải quan tâm. Như chúng ta đã biết, việc xảy ra lạm phát năm 2011 là 18,68% đã có nhiều ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội như: số doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng sản xuất gia tăng, tình trạng thất nghiệp khắp nơi, sản lượng sản xuất sụt giảm, và Chính phủ phải thực thi nhiều giải pháp để kiềm chế lạm phát. Vậy nguyên nhân do đâu đã gây ra lạm phát? Đó là vấn đề mà chúng ta cần quan tâm, cần phải nhận biết và xác định được các nhân tố tác động đến lạm phát trên lý thuyết lẫn thực nghiệm, từ đó có giải pháp kịp thời để kiềm chế nó và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với việc cung cấp các thông tin cho nhà hoạch định chính sách mà còn đối với cả các nhà kinh doanh trong việc điều chỉnh các chiến lược của mình.
Chính vì vậy, các công cụ kiểm định giúp cho việc nhận dạng và xác định mức độ ảnh hưởng của những yếu tố vĩ mô đến lạm phát ngày càng được sử dụng phổ biến. Một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực đó là vận dụng các mô hình kinh tế hay mô hình toán học để phân tích các biến số vĩ mô và từ đó xác định các nhân tố có mức tác động khác nhau đến lạm phát. Đồng thời làm cơ sở cho việc đề xuất các khuyến nghị để điều tiết lạm phát trong thời gian tới. Chính vì những ý nghĩa quan trọng đó, sau khi học xong chương trình Cao học chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng của Trường Đại Học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, tôi quyết định chọn đề tài: “Ứng dụng mô hình VAR kiểm định các nhân tố tác động lạm phát ở Việt Nam” làm báo cáo nghiên cứu của mình.
Mục tiêu nghiên cứu: Các mục tiêu cụ thể như sau: - Tổng hợp các lý thuyết về lạm phát, mô hình VAR và một số nghiên cứu ứng dụng trên thế giới; - Mô tả lạm phát Việt Nam giai đoạn 1990 – 2012 và nhận định về nguyên nhân cơ bản tạo áp lực tăng lạm phát; - Ứng dụng mô hình VAR để kiểm định nhân tố tác động đến lạm phát như: Đầu tư công, cung tiền M2, sản lượng công nghiệp, lãi suất, CPI; - Dựa trên kết quả thực nghiệm, tác giả có một số đề xuất chính sách kinh tế góp phần kiểm soát lạm phát. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu: Lạm phát và kiểm định các nhân tố gây lạm phát qua mô hình VAR. - Phạm vi nghiên cứu: Diễn biến lạm phát Việt Nam từ 1990 - 2012 4. Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp định lượng và định tính: - Phương pháp định tính bằng bảng: Các chỉ số kinh tế vĩ mô, phân tích mối tương quan các biến số để thấy được sự biến động của các chỉ số; - Phương pháp định lượng qua phần mềm Eview: Chạy hồi quy kiểm định các nhân tố tạo áp lực cho lạm phát; - Nguồn số liệu: các số liệu sử dụng trong báo cáo gồm có: Sản lượng công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng CPI, cung tiền M2, đầu tư công và lãi suất từ năm 1990 đến 2012 và sẽ được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, ADB và IMF.
Kết cấu của luận văn: Luận văn có kết cấu gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về lạm phát và mô hình VAR Chƣơng 2: Thực trạng lạm phát giai đoạn 1990 – 2012 và ứng dụng mô hình VAR kiểm định Lạm phát ở Việt Nam Chƣơng 3: Một số gợi ý chính sách góp phần kiểm soát lạm phát ở Việt Nam Kết luận 6. Những đóng góp và hƣớng mở của đề tài: - Thứ nhất, đề tài cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố tác động lạm phát; - Thứ hai, đề tài cũng cung cấp một bằng chứng có cơ sở cho đề nghị chính sách kinh tế của Việt Nam trong chủ đề lạm phát; - Thứ ba, do hạn chế của người thực hiện cũng như vấn đề phức tạp của lạm phát, nên báo cáo gặp không ít hạn chế và thiếu sót, nhưng báo cáo cũng gợi mở cho việc ứng dụng các mô hình định lượng trong phân tích kinh tế. Đây cũng là hướng phát triển trong việc vận dụng các mô hình kinh tế phù hợp hơn (SVAR, VECM, FAVAR…) với hiện tại và mở rộng cho nhiều biến số kinh tế trong tương lai. -1- Chƣơng 1 LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT VÀ MÔ HÌNH TỰ HỒI QUY VÉC TƠ VAR 1.
LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT: 1.1 Khái niệm lạm phát “Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung trong nền kinh tế”.(Mankiw, 2003, [26]) Định nghĩa rất ngắn gọn, tuy nhiên phát biểu nêu lên không đơn giản? Ở đây có các vấn đề đặt ra: Mức giá chung là gì? Tăng lên như thế nào và tăng bao nhiêu lần? Khi bàn về lạm phát xảy ra, chúng ta đều có quan niệm là sự tăng giá hàng loạt của các loại hàng hoá trong xã hội chứ không riêng gì một số hàng hoá nào đó. Và giá hàng hoá tăng liên tục đến chóng mặt chứ không phải tăng một hay vài lần rồi dừng lại. Để tính toán và đo lường lạm phát, chúng ta sử dụng các chỉ số kinh tế đại diện cho mức giá hàng hoá, và thông qua đó xác định sự biến động của lạm phát. Các chỉ số đều tính toán trung bình của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế, và chúng có sự khác nhau về trọng số của các hàng hoá nằm trong giỏ hàng hoá dùng để tính lạm phát.2 Đo lƣờng và phân loại lạm phát: 1.1 Đo lƣờng lạm phát: Các nhà kinh tế sử dụng các chỉ số đo lường mức giá bình quân (mức giá chung) để phản ánh xu hướng biến động của các loại lạm phát khác nhau.
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất về mức giá chung, vì giá trị của các chỉ số phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hoá nằm trong rổ hàng hoá, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các chỉ số phổ biến được sử dụng để đo lường lạm phát như sau: -2- Chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator) (Chỉ số giảm phát GDP) GDP danh nghĩa sử dụng giá hiện hành để tính giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ, GDP thực tế sử dụng giá cố định để tính giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra trên lãnh thổ quốc gia. Chỉ số điều chỉnh GDP, còn gọi là chỉ số giảm phát GDP hay chỉ số có trọng số thay đổi, do đó còn được gọi là chỉ số Paasche:(Mankiw, 2003, [26]) GDP danh nghĩa Chỉ số điều = *100 = *100 (1.1) chỉnh GDP GDP thực tế Trong đó: , là giá và sản lượng sản phẩm i trong năm t là giá sản phẩm i trong năm cơ sở là số lượng sản phẩm sản xuất trên lãnh thổ quốc gia Lưu ý Qit là quyền số của chỉ số, quyền số này thay đổi theo thời gian. Chỉ số điều chỉnh GDP được các nhà kinh tế sử dụng để theo dõi mức giá bình quân của nền kinh tế.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI - Consumer Price Index) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là thước đo mức giá chung của rổ hàng hoá và dịch vụ điển hình mà người tiêu dùng mua. Rổ hàng hoá được ấn định với năm cơ sở, chỉ số CPI là một chỉ số có trọng số cố định, còn được gọi là chỉ số Laspeyres được xác định bởi công thức:(Mankiw, 2003, [26]) CPI = * 100 (k là số mặt hàng tiêu dùng) (1.2) Trong đó: là giá sản phẩm i trong năm t , là giá và lượng sản phẩm i trong năm cơ sở Quyền số của CPI là lượng sản phẩm ở năm gốc ( ) -3- Cách tính CPI không phải là cộng các giá cả lại và chia cho tổng lượng hàng hoá, mà là cân nhắc từng mặt hàng theo tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế thể hiện qua tỷ trọng của nó. Chỉ số giá CPI thường được xem như là phương pháp đo lường chi phí sinh hoạt liên quan tới giỏ hàng hoá và dịch vụ cụ thể được mua bởi người tiêu dùng. Các nhà kinh tế và nhà hoạch định chính sách theo dõi cả chỉ số điều chỉnh GDP và chỉ số giá tiêu dùng CPI nhằm xác định tốc độ gia tăng của giá cả.
Tuy nhiên có vài điểm khác biệt quan trọng làm cho chúng không đồng nhất với nhau: + Thứ nhất, chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của mọi hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nước, trong khi đó CPI phản ánh mức giá của mọi hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng mua. Sự khác biệt này rất quan trọng, ví dụ khi giá dầu tăng lên thì chỉ số giá CPI tăng nhiều hơn mức gia tăng của chỉ số điều chỉnh GDP. + Thứ hai, chỉ số điều chỉnh GDP và chỉ số CPI liên quan đến việc gán quyền số cho các loại giá cả khác nhau. Giỏ hàng hoá khi tính CPI là cố định, trong khi nhóm hàng hoá và dịch vụ dùng để tính chỉ số điều chỉnh GDP tự do thay đổi theo thời gian.
Sự khác biệt không quan trọng nếu mọi giá cả điều thay đổi theo cùng tỷ lệ, song nếu chúng thay đổi với những tốc độ khác nhau thì cách gán quyền số rất quan trọng khi tính tỷ lệ lạm phát.