Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu ứng động lực trên thị trường hàng hoá Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở thực tiễn Chương 3: Dữ liệu và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả của mô hình nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Khuyến nghị và đề xuất CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE HIEU UNG DONG LUC TREN TH] TRUONG HANG HOA thuyết thị trường hiệu quả Giả định thị trường hiệu quả được phát triển độc lập bởi 2 tác gia Eugene F. Fama và Paul A. Vào năm 1970, Fauma xuất bản công trình “Efficient Capital Markets: A Review of Theory and Empirical Work”. Trong nghiên cứu này Fama đã trình bày ý tưởng về Thị trường hiệu quả (EMH) và tác giả định nghĩa rằng thị trường hiệu quả là thị trường mà giá cô phiếu luôn phản ánh toàn bộ các thông tin sẵn có trên thị trường (Fama, 1970).
Ý tưởng ban đầu của thị trường hiệu quả là giá cô phiếu phản ánh một cách chính xác thông tin có sẵn và nhanh chóng có sự kết hợp các luồng thông tin trên thị trường và phản ánh vào giá khi có người biết được thông tin. Một thị trường hiệu quả là một thị trường cạnh tranh nơi mả không xuất hiện cơ hội chênh lệch giá nào và giá cổ phiếu sẽ phản ánh giá trị cơ bản của tài sản (Brealey, Myers và Allen, 201 1, trang. Điều này dẫn tới việc các nhà đầu tư không thê kiếm được lợi suất cao hơn lợi suất của thị trường và cũng không thể có được thu nhập bắt thường với giá trị dương. Tắt cả các thông tin liên quan đã được phản ánh trong giá cô phiếu cũng có nghĩa là việc tìm kiếm thông tin có lợi để kiếm lời là vô ích.
Fama cũng đã chỉ ra 3 điều kiện đề có thể tồn tại thị trường vốn hiệu quả. Một thị trường có thể phản ánh toàn bộ thông tin có sẵn nếu không xuất hiện phí giao dịch, tắt cả các thông tin là miễn phí, có thể được truy cập bởi tất cả những người tham gia thị trường và tất cả thông tin đều được đánh giá theo cùng một cách (tính tốt xấu, quy mô,. Tuy nhiên những điều kiện này là bất khả thi trên thị trường vốn và tuy rằng. việc xuất hiện của chúng là điều kiện cho một thị trường hiệu quả thì chúng lại không.
cần thiết với nền kinh tế, những giả định này chỉ sử dụng đề chỉ ra tính kém hiệu quả của thị trường (E. Các nghiên cứu thực nghiệm về thị trường hiệu quả đều dựa trên ý tưởng đánh bại thị trường, việc đánh bại này giúp các nhà đầu tư thực sự trên thị trường có thể tạo được những khoản đầu tư có lợi suất cao. Ví dụ khi nghiên cứu các quỹ tương hỗ và lợi suất của các quỹ này, nếu ta nhận thấy họ đạt được lợi suất vượt trội nhờ điều. chỉnh theo thông tin rủi ro thì ta có thể kết luận rằng thị trường đang không hiệu quả với thông tin được sở hữu bải các nhà quản lý quỹ (Campbell, Lo và MacKinlay, 1997) Mặc dù chúng ta có thể chạy mô hình kiểm tra tính hiệu quả của thị trường thì tính hiệu quả của bắt kì thị trường nào đều không thể bị bác bỏ (Campbell và cộng sự, 1997).
Bất kì mô hình kiêm định sự hiệu quả đều được xây dựng trên mô hình cần bằng. Nếu sự tồn tại của thị trường hiệu quả bị phủ định hoàn toàn thì tính không hiệu quả sẽ là kết luận hoặc mô hình cân bằng xây dựng ban đầu có thê không chính xác Tác giả Campbell gọi đó là vấn đề về giả thuyết chung. Nghĩa là việc kiểm định tính hiệu quả của thị trường rất khó khăn và gần như bắt khả thi. Bất kì kiểm định thị trường hiệu quả hay không hiệu quả đều sử dụng các mô hình định giá tài sản đề có lợi nhuận kỳ vọng để so sánh với lợi nhuận thực.
Tuy nhiên không thể đánh giá được. lợi nhuận bắt thường mà không có lợi nhuận dự kiến theo một mô hình định giá nào. Do vậy, lợi nhuận bất thường có thể phản ánh sự kém hiệu quả của thị trường, một mô hình định giá tài sản không chính xác hoặc cả hai cùng lúc. Định nghĩa chung.
về hiệu quả thị trường là quá chung chung đề có thể kiểm định bằng các nghiên cứu thực nghiệm. Fama từ đó đưa ra ba định nghĩa khác nhau về hiệu quả dựa trên mức. độ thông tin có sẵn: thị trường hiệu quả dạng yếu (weak form), thị trường dạng bán- mạnh (semi-strong form) và thị trường hiệu quả dạng mạnh (strong form). Thị trường hiệu quả dạng yếu Nếu thông tin phản ánh trong giá cô phiếu chỉ bao gồm các thông tin trong quá khứ thì thị trường bị coi là kém hiệu quả.
Điều này có nghĩa rằng không thẻ nào hoàn toàn chiến thắng thị trường bằng cách nghiên cứu các biến động giá trong quá khứ (Brealey va công sự, 2011, trang 345.) Hay nói cách khác, dựa vào thông tỉn trong quá khứ thì nhà đầu cơ không thắng được thị trường vì thông tin quá khứ đã được phản ánh hoàn toàn trong giá cổ phiếu hiện tại. Trong nghiên cứu của mình năm 1965, Fama da chi ra rằng dé khẳng định 1 mô hình định giá tương lai có ý nghĩa khi tác giả có thể chứng rằng luôn có thể sử dụng mô hình này để đưa ra những dự đoán chính xác về giá cả trong tương lai (E. Nếu giá lịch sử được phản ánh qua giá cô phiếu hiện tại thì cả phân tích kĩ thuật lẫn chiến lược giao dịch thuận chiều (momentum strategies) đều không thể có lãi trong dài hạn. Các nhà nghiên cứu đã thử kiểm tra giả thiết về tính yếu của thị trường bằng cách đo lượng lợi nhuận của các chiến lược đầu tư sử dụng mô hình định giá khác nhau nhưng mô hình dạng yếu chỉ xuất hiện trong một vài mẫu dữ liệu ngày (Brealey và cộng sự, 2011, trang 346).
Nam 1953, Maurice Kendall phan tích hành vi giá của cô phiếu và hàng hóa bằng cách phân tích chuỗi giá hàng tuần nhưng tác giả đã không thể tìm ra được một mô hình giá cỗ phiếu thỏa mãn. Chuỗi giá xuất hiện một cách ngẫu nhiên, không theo quy luật nào. Tác giả Brealey miêu tả hiện tượng. này như sau: “Việc thay đổi của chuỗi giá giống như việc “Bóng ma cơ hội” chọn ngẫu nhiên I con số.
thêm nó vào giá hiện tại dé tao ra giá của tuần tới” (Brealey và công sự, 201 I, trang 342). Giá của cô phiếu tuân theo lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (random walk) và trong một thị trường cạnh tranh điều này là sự thật. Nếu việc dự đoán giá cô phiếu là khả thi thì các nhà đầu tư sẽ có để đạt được lợi nhuận dễ dàng bằng cách tận dụng vị thế có lợi dựa vào dự đoán đó. Tuy nhiên không thê tồn tại khoản đầu tư đạt lợi nhuận dễ dàng trên một thị trường cạnh tranh (Brealey và cộng sự, 2011, trang 345).
Giả định rằng các nhà đầu tư trên thị trường biết rằng một cổ phiếu chắc chắn sẽ có sinh lời cao trong năm tới. Mọi người sẽ quan tâm tới việc mua cổ phiếu nay, day giá cổ phiếu lên cao cho tới khi nó không còn sinh lợi nữa. Giá cô phiếu đã kết hợp những tin tức tích cực vào năm tới và mô hình giá trong tương lai hiện không thể đoán trước. sau những biến động ngẫu nhiên phản ánh sự xuất hiện của thông tin mới (Viện khoa học Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển, 2013).
Thị trường hiệu quả dạng vừa Nếu giá cỗ phiếu phán ánh thông tin đã công bồ trong quá khứ cũng như thông. tin vừa công bố xong thì thị trường đang đạt hiệu quả dạng vừa (Campbell và công sự, 1997). Giá sẽ ngay lập tức được điều chỉnh theo thông tin được công bố mới nhất như thông báo thu nhập (earning announcement), phát hành cổ phiếu mới hoặc việc sát nhập của công tỉ đối thủ (Brealey và cộng sự, 201 1, trang 346). Nhà đầu tư không.
thể có lợi nhuận đảm bảo từ thông tin xuất hiện trên thị trường như là thông báo tin tức hoặc các khuyến nghị đầu tư (Berk và DeMarzo, 2011, trang 433) vì ngay khi thông tin được công bố, giá chứng khoán đã thay đổi phản ánh thông tin này. Thị trường hiệu quả dạng mạnh Nếu giá của chứng khoán phản ánh tất cả thông tin công bố trong quá khứ, thông tin hiện tại cũng như toàn bộ thông tỉn nội bộ thì thị trường có hiệu quả dạng mạnh. Cơ sở đứng sau lý thuyết này là nếu có thông tin nội bộ, những người biết thông tin nội bộ sẽ mua bán ngay chứng khoán để thu lợi nhuận và như vậy giá chứng. khoán sẽ thay đôi đến khi nào người trong cuộc không thê kiếm lời được nữa.
Thông tin nội bộ có thê là các báo cáo của thông tin chưa được công bồ, kế hoạch đầu tư hoặc sáp nhập trong tương lai, những thứ mà chỉ có CEO của công ty có thể năm bắt. Trong một thị trường hiệu quả dạng mạnh, chúng ta có thể quan sát các nhà đầu tư tạo ra lợi nhuận hoặc thua lỗ nhưng sẽ không có nhà đầu tư nào có thể luôn chiến thắng thị trường (Brealey và cộng sự, 201 1, trang 346). Keown và Pinkerton vào năm. 1981 đã phát hiện ra rằng thị trường phản ứng với các kế hoạch sát nhập, mua bán của các công ty trước khi có thông báo công khai đầu tiên.
Gần một nửa các phản ứng. của thị trường diễn ra trước khi một thông báo chính thức được phát ra và họ tin rằng. điều này diễn ra là bởi giao dịch nội gián (insider trading). Jaffe (1973) chỉ ra rằng.
một số nhà đầu tư nội bộ có lãi nhuận vượt trội hơn thị trường chung tới 5% trong khoảng thời gian 8 tháng nắm giữ cô phiếu. Điều này chứng tỏ rằng những người có thông tin nội bộ có thé khai thác chúng để đạt được lợi nhuận lớn hơn, mâu thuẫn với giả thuyết hiệu quả dạng mạnh vì tất cả thông tin được công khai và tin tức nội bộ có liên quan không được phản ánh tron giá cổ phiếu. Tuy nhiên thị trường dường như ngay lập tức phản ứng với thông tin vẻ việc sáp nhập ngay khi có thông báo chính thức đầu tiên, việc này ủng hộ giả thuyết về thị trường hiệu quả dạng bán mạnh (Keown và Pinkerton, 1981). Giả thuyết bước đi ngẫu nhiên (Random Walk Hypothesis) Giả định thị trường hiệu quả cho rằng sự biến đồi của giá cô phiếu là ngẫu nhiên và không thê đạt được lợi nhuận đầu tư bằng cách quan sát giá trên thị trường.