CHƯƠNG 1 C ơ SỞ KHOA HỌC CỦA CHUYỂN DỊCH c ơ CẤU KINH TÉ TẠI ĐỊA PHƯƠNG 1. Nhũng vấn đề lý luận cơ bản về CO’ cấu kinh tế 1. Khái niệm về cff cấu kinh tế Cơ cấu là một phạm trù triết học phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng. Nó được biểu hiện những yếu tổ cấu thành và mối quan hệ cơ bản, tương đối ổn định của đối tượng đó trong một thời gian nhất định .(Bùi Tát Thắng (2006), “Chuyển dịch cơ cẩu ngành kinh tế ở Việt nam, nhà xuất bản khoa học xã h ộ i", Hà Nội) Cơ cấu kinh tế của một nền kinh tế quốc dân là tổng họp những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế.
Nó có quan hệ đến các ngành các lĩnh vực, các thành phần kinh tế. Đó là mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của một nền kinh tế - xã hội trong một thời gian nhất định. Thực chất việc thay đổi và hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý là một quá trình phân công lao động xã hội. Các Mác đã nhân mạnh “ Cơ cấu kinh tế xã hội ìà toàn thể những quan hệ sản xuất phù hợp với một quá trình phát triẻn nhai định của lực lượng sàn xuât vật chát”.
Các Mác đã chú ý đến cả hai mặt chất và lượng của cơ cấu kinh tế, theo ông thì cơ cấu kinh tế là “Một sự phán chia vê chát lượng và một tỷ ìệ vê sô lưọmg của những quá trình sàn xuất xã h ộ ĩ\ hay nói một cách khác, cơ cấu kinh tế không chỉ là mối quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành mà bao hàm sự phát triển của từng bộ phận trong cơ cấu đó. Theo quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống, cơ cấu kinh tế là thuộc tính của hệ thống kinh tế, biểu thị nội dung, cáchthức liên kết phối hợp giữa các phần tử cấu thành nên hệ thống kinh tế. Trong những điều 5 kiện kinh tế cụ thể, các bộ phận họp thành có mối quan hệ tương tác, hữu cơ; số lượng và chất lượng của các bộ phận và quan hệ giữa chúng bị chi phôi bời yêu cầu phát triền trong từng thời kỳ của đất nước. Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng (được đo bằng mức độ chặt - lỏng của mối quan hệ tương tác giữa các phẩn tử cấu thành) và số lượng (được đo bằng tỷ lệ phần trăm của mỗi phần tử, %) giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Định nghĩa về cơ cấu kinh tế được đề cập trong Từ điển bách khoa Việt Nam “Cơ câu kinh tê là tông thê các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đôi ôn định hợp thành”.(Trung tâm biên soạn từ điển quôc gia (1995): Từ điên bách khoa việt nam, tập 1, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội) Cơ cấu kinh tế của một quốc gia hay một địa phương là tổng thể những mối liên hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế của quốc gia hay của địa phương đó, bao gồm các lĩnh vực (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng); các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải,.); các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, tư nhân,.); các vùng lãnh thô kinh tế,. Cơ cấu kinh tế không phải là bất biến. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và đặc điêm chính trị - xã hội của mỗi quốc gia thích ứng với từne thời kỳ lịch sử nhất định. Do đó, cơ cấu kinh tế mana tính lịch sử và chỉ được coi là hợp lí ờ một thời kỳ lịch sử cụ thể.
Nội dung của cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế được thể hiện trên 3 mặt * Cơ cấu kinh tế theo neành Cơ cấu ngành (khu vực) kinh tế là tổng hợp ngành kinh tế được hình thành trên các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ tong hợp giữa các ngành với nhau và phản ánh trình độ phân công lao động xã hội của nên kinh tế và trình độ phát trien của lực lượng sản xuất. Cơ cấu ngành kinh tê có vai trò quyết định cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Cơ cấu ngành kinh tế là biếu hiện quan trọng nhất và đặc trưng nhất của cơ cấu kinh tê. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và vai trò của từng ngành trong phát triên kinh tế - xã hội, căn cứ vào điều kiện thực tế đê phát triên chúng.
(Bùi Tất Thang (2006), "Chuyên dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt nam, nhà xuát bàn khoa học xã hội ”, Hà Nội) Cơ cấu theo ba nhóm ngành lớn: Nhóm ngành nông lâm ngư nghiệp hay còn được gọi là khu vực I (hay ngành nông nghiệp), bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp; Nhóm ngành công nghiệp, xây dựng hay còn được gọi là khu vực II (hay ngành công nghiệp), gồm các ngành công nghiệp chế biên, công nghiệp khai thác, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khâu, công nghiệp lọc dầu, ngành xây dựng; Nhóm ngành dịch vụ hay còn được gọi là khu vực III, gồm các ngành thương mại du lịch, giao thông vận tải, tài chính ngân hàng, bưu điện và các ngành dịch vụ khác. Cơ cấu dựa theo phương thức, công nghệ sàn xuất gồm hai nhóm ngành: Nông nghiệp và phi nông nghiệp. Khi nhóm ngành phi nông nghiệp càng phát triển và chiếm tỷ trọng càng lớn thì nền kinh tế càng phát triển ờ trình độ cao. Nhóm ngành nông nghiệp gồm các ngành nông nghiệp lâm 7 nghiệp, ngư nghiệp; nhóm ngành phi nông nghiệp gồm các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
Cơ câu theo nhóm ngành dựa vào tính chát sàn phâm cuôi cùng: Nhóm ngành sản xuất sản phâm vật chất và nhóm ngành sản xuất sản phâm dịch vụ (phi vật chất). Việc phân chia cơ cấu kinh tế theo hai nhóm ngành này nhăm nghiên cứu về tỷ trọng đóng góp GDP và mức độ hài hoà giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Sự hài hoà giữa hai khối ngành này là cần thiết, động lực tăng trường và phát triên kinh tế và chuyến dịch cơ cấu kinh tế. Xét từ giác độ kinh tế học phát triển thì các ngành sản xuất ra các sản phẩm vật chât và các ngành sản xuất sản phâm dịch vụ có quan hệ khăng khít với nhau theo một tương quan nhất định.
Đặc trưng tiêu biểu nhất là các ngành dịch vụ phải tăng nhanh hơn các ngành sản xuất vật chất. Khi xem xét cơ cấu ngành kinh tế, chúng ta cũng phải chú ý đến tỷ trọng hay mức đóng góp của các sản phẩm chủ lực cho nền kinh tế, cũng như của các sản phẩm chứa hàm lượng công nghệ cao. Tính hợp lý trong nội bộ của các ngành và cơ câu ngành kinh tế sẽ bảo đảm tính hiệu quả cho sự phát triển nền kinh tế. Cơ cấu giữa hai nhóm ngành sản xuất vật chất và ngành sản xuất các sản phẩm dịch vụ cần được nghiên cứu toàn diện, đầy đủ quan hệ giữa các thành phẩn tạo cho nền kinh tế có sức mạnh tổng họp, phát triển cân đối, hài hoà giữa các mặt, giữa đầu vào và đầu ra.
* Cơ cấu theo thành phẩn kinh tế Cơ cấu thành phần kinh tế nói lên mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần kinh tế tham gia vào các hoạt động kinh tế chung. Giữa các thành phần kinh tế có moi quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và cạnh tranh với nhau. Cơ cấu thành phần kinh tế thể hiện các loại hình kinh tế tồn tại và phát triển cấu thành hệ thống kinh tế dưới góc độ cách thức tổ chức sản xuất và sở 8 hữu như: tư liệu sản xuất, vốn đầu tư vốn và khoa học công nghệ,. Trong đó, nghiên cứu loại hình kinh tế nào có ý nghĩa quyết định đôi với nên kinh tê.
Đây là vấn đề tương đối phức tạp. Ở nước ta, trên cơ sở Cương lĩnh và Hiên pháp, đồng thời qua tổng kết thực tiễn đổi mới, Đại hội X của Đảng đã chì rõ “Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sờ hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế Nhà nước và kinh tê tập thể ngày càng trờ thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”[12]. Các thành phần kinh tế ờ nước ta là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Trong điều kiện toàn cầu hoá, việc phân định các loại hình kinh tể có thể theo hai loại hình kinh tế nhà nước và kinh tế phi nhà nước.
Trong khu vực kinh tế phi nhà nước thì bộ phận kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng, biêu hiện sự hội nhập kinh te và phát huy các nội lực phát triển kinh tế - xã hội. Cơ cấu thành phần kinh tế có sự khác biệt theo ngành và lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Trong công nghiệp, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; trong nông nghiệp kinh tế tập thê và kinh tế tư nhân chiếm vị trí quan trọng hơn; trong thương mại kinh tế ngoài nhà nước có vai trò lớn. Các thành phần kinh tế có sự liên kết, hỗ trợ chặt chẽ với nhau cùng phát triển, tạo ra những điều kiện tốt khai thác tất cả các nguồn lực trong nước và quốc tế để phát triển kinh tế.
Phát triên nền kinh tế nhiều thành phần đã trờ thành một quy luật tất yêu trong đời sông kinh tê xã hội ờ nhiêu nước trên thế giới. Các nước có nền kinh tế phát triển đều dựa trên cơ sờ phát triển một cơ cấu kinh tế đa dạng gồm nhiều thành phần. * Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ Cơ cấu kinh tế lãnh thổ là kết quả của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ. Neu cơ cấu ngành kinh tế được hình thành từ quá trình thưc hiên 9 chuyên môn hoá sản xuất thỉ cơ cấu lãnh thổ hình thành từ việc phân bô sản xuất theo không gian địa lý.
Cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu ngành kinh tế là hai mặt của cơ cấu kinh tế. Bản chất của chúng đều là kết quả của sự phân công lao động xã hội.