chương 1 sẽ đưa ra những vấn đề cấp bách và cần thiết để phân tích tác động của nắm giữ tiền có điều tiết đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Mục tiêu của khoá luận sẽ được đề ra, cùng với các câu hỏi nghiên cứu sẽ được trả lời ở cuối khoá luận: Tác động của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính như thế nào? Xu hướng điều tiết của bất định chính sách kinh tế Việt Nam đối với nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính? Và những đề xuất nhằm cải thiện cũng như phát triển tối ưu hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Đối tượng được nghiên cứu bao gồm 430 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE và HNX (không bao gồm các ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty tài chính, các công ty không tồn tại dữ liệu và các công ty không liên tục hoạt động trong khoảng thời gian nghiên cứu) trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021. Khoá luận sẽ sử dụng phần mềm Stata 16.0 để thực hiện hồi quy, mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), sau đó sử dụng kiểm định Hausman để tìm ra mô hình phù hợp.
Tìm ra sai phạm bằng kiểm định phương sai sai số thay đổi và kiểm tra hiện tượng tự tương quan. Từ đó sử dụng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục sai phạm của mô hình (nếu có) và đưa ra phương trình cuối cùng. Khoá luận được thực hiện nhằm cho thấy tác động của nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính và xu hướng điều tiết của bất định chính sách kinh tế Việt Nam đối với nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính để có cái nhìn tổng thể hơn về các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2016-2021. Chương 2 sẽ trình bày cụ thể hơn các lý thuyết về nắm giữ tiền, bất động chính sách kinh tế và hiệu quả tài chính doanh nghiệp.
7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái quát về nắm giữ tiền Tiền được xem là máu dùng để nuôi sống cơ thể doanh nghiệp, là một tài sản có tính thanh khoản cao và giúp doanh nghiệp có thể đáp ứng kịp thời các dự án đầu tư, chi trả các khoản chi phí hoạt động trong thời gian ngắn. Trong các nghiên cứu tài chính, tiền được xem là các khoản tiền mặt hoặc các khoản tương đương tiền. Lượng tiền doanh nghiệp nắm giữ càng lớn, doanh nghiệp sẽ càng có nhiều cơ hội đầu tư.
Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp nắm giữ quá ít tiền thì có thể sẽ không đủ để trang trải cho các chi phí thông thường. Do đó, lượng tiền do doanh nghiệp nắm giữ phải vừa đủ để đảm bảo khả năng thanh toán cho các hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp, dự phòng cho các trường hợp khẩn cấp và cả các dự báo về đầu tư trong tương lai. Các doanh nghiệp nắm giữ tiền do các động cơ như động cơ giao dịch, động cơ phòng ngừa và động cơ đầu tư. Động cơ giao dịch cho rằng mức tồn quỹ tiền mặt được hoạch định để đáp ứng kịp thời các khoản chi tiêu nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Theo Opler và cộng sự (1999), công ty giữ tiền mặt cho hoạt động kinh doanh để đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng ngày. Các loại hình kinh doanh khác nhau thì nhu cầu về tiền cũng khác nhau. Động cơ phòng ngừa, doanh nghiệp dự phòng trước khả năng gia tăng nhu cầu chi tiêu do tăng quy mô sản xuất kinh doanh hoặc đáp ứng nhanh chóng những cơ hội đầu tư của doanh nghiệp. Theo Custodio và cộng sự (2005), các doanh nghiệp nắm giữ tiền để chi trả cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư khi nguồn tài chính khác không có hoặc rất tốn kém.
Động cơ đầu tư, các doanh nghiệp nắm giữa tiền để tăng nguồn vốn đầu tư các dự án mới hoặc cơ hội đầu tư phát sinh trong tương lai. Trong thực tế việc tiếp cận nguồn vốn rất khó và có chi phí cao, vì vậy để thực hiện cơ hội đầu tư tương lai, doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ. Việc giữ lại tiền mặt ở doanh nghiệp xuất phát từ động cơ đầu tư trong tương lai của doanh nghiệp. 8 Theo Dittmar và Mahrt-Smith (2007) vào năm 2003, tổng của tất cả các khoản tiền và các khoản tương đương tiền chiếm hơn 13% tổng số tài sản của tất cả các công ty lớn của Hoa Kỳ.
Al-Najjar và Belghitar (2011) phát hiện ra rằng tiền mặt chiếm trung bình 9% tổng tài sản của các công ty Anh. Các nghiên cứu đầu tiên về nắm giữ tiền của các công ty như Ferreira và cộng sự (2004), Kim và cộng sự (1998), Opler và cộng sự (1999), Ozkan và cộng sự (2004). Hầu hết các nghiên cứu này giả định rằng nắm giữ tiền mặt phụ thuộc bởi các đặc điểm của công ty như đòn bẩy tài chính, cơ hội tăng trưởng, dòng tiền, đầu tư vào tài sản cố định và quy mô của công ty và lĩnh vực công nghiệp. Ngoài ra, Sheikh và Khan (2016) cho thấy việc nắm giữ tiền mặt không chỉ được phụ thuộc bởi đặc điểm của công ty mà còn bởi đặc điểm của người quản lý như tuổi tác, giới tính hay người quản lý có phải là giám đốc điều hành hay không và người quản lý có phải là giám đốc hội đồng quản trị hay không.
Bên cạnh đó, quản trị công ty cũng có thể ảnh hưởng đến giá trị nắm giữ tiền mặt của một công ty. Nghiên cứu của Dittmar và Mahrt-Smith (2007) cho thấy các nhà đầu tư đánh giá cao lượng tiền mặt dư thừa của các công ty được quản lý tốt ở mức gần gấp đôi giá trị của các công ty được quản lý kém. Theo Marco Bigelli và Javier Sánchez-Vidal (2011), có ba thước đo lượng tiền bao gồm: tiền mặt thuần, bao gồm tiền mặt séc và tiền gửi ngân hàng chia cho tổng tài sản doanh nghiệp (trừ đi tiền mặt thuần); các khoản tương đương tiền, bằng chứng khoán thị trường ngắn hạn khác chia cho tổng tài sản doanh nghiệp (trừ đi các khoản tương đương tiền); và tổng tiền mặt thuần và các khoản tương đương tiền mặt chia cho tổng tài sản doanh nghiệp (trừ đi tiền mặt thuần và các khoản tương đương tiền) theo Opler và cộng sự (1999). Tỷ lệ nắm giữ tiền theo Opler (1999), Ozkan và Ozkan (2004) được đo lường bằng tỷ lệ tiền và các khoản tương đương tiền trên tổng tài sản.
Đây là các đo lường tỷ lệ tiền mặt thường được sử dụng trong các bài nghiên cứu và cũng là phương pháp đo lường tỷ lệ nắm giữ tiền mà tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu của tác giả. Khái quát về bất định chính sách kinh tế Công ty hoạt động trong môi trường kinh tế vĩ mô được định hình bởi chính phủ và các chính trị gia, do đó, chính sách kinh tế có tác động đến môi trường kinh doanh của công ty và từ đó ảnh hưởng đến quyết định của họ, bao hàm cả các quyết định tài chính (Demir & Ersan, 2017). Theo Jurado và cộng sự (2015), bất định chính sách kinh tế (Economic Policy Uncertainty – EPU) là những thay đổi không lường trước được của các CSKT, ảnh hưởng đến hệ thống kinh tế và việc ra quyết định của các chủ thể trong nền kinh tế. Phương pháp đo lường mức độ bất định CSKT được phát triển đầu tiên là xây dựng các chỉ số dựa trên các cụm từ có hàm ý bất ổn trên phương tiện truyền thông theo phương pháp khai phá dữ liệu dạng chữ (text-mining), được phát triển bởi Baker và cộng sự (2016).
Chỉ số này được xây dựng dựa trên ba thành phần: (i) Thành phần thứ nhất được hình thành từ kết quả tìm kiếm một tỷ lệ các từ khóa chỉ sự bất định trong tổng số từ của 10 tờ báo lớn của Mỹ; (ii) Thành phần thứ hai đo lường mức độ không chắc chắn về sự thay đổi của các mã số thuế Liên bang trong tương lai; (ii) Thành phần thứ ba phản ánh sự không thống nhất trong dự báo của các chuyên gia về lạm phát và chi tiêu của chính phủ. Chỉ số EPU được cho là có thể nắm bắt sự bất định trên phương diện người ra quyết định thực hiện chính sách không chắc chắn được về tác động của nó trong hiện tại và tương lai. Baker và cộng sự (2016) đã chỉ ra rằng, thành phần thứ nhất có đóng góp phần lớn vào tác động của chỉ số bất định CSKT. Tuy nhiên, phương pháp của Baker và cộng sự (2016) có nhược điểm là phụ thuộc vào tính chất của truyền thông cũng như mức độ kiểm soát truyền thông của mỗi quốc gia.
Vì vậy, các chỉ số này có thể thay đổi khi có sự thay đổi có chủ đích của mức độ kiểm soát và can thiệp truyền thông từ chính phủ. Ahir và cộng sự (2018) đã xây dựng và tiến hành đo lường chỉ số bất định toàn cầu (The World Uncertainty Index – WUI) dựa trên tần số của từ khóa “Uncertainty” (sự không chắc chắn) và các biến thể của nó xuất hiện trong các báo cáo ở cấp độ quốc gia của tổ chức Economist Intelligence Unit (EIU, Anh). Giá trị của WUI càng lớn thể hiện cho mức độ bất định CSKT càng cao. Ưu điểm của chỉ 10 số WUI là tính nhất quán cao bởi nó được tính toán dựa trên bộ báo cáo được lập một cách có hệ thống cho các quốc gia và chỉ số này có thể so sánh giữa các quốc gia trong mẫu nghiên cứu.
Do đó, WUI cung cấp một công cụ đo lường hiệu quả cho các nghiên cứu về tác động của bất định chính sách đến nền kinh tế quốc tế (Ahir và cộng sự, 2018). Sự ra đời của chỉ số WUI đã và đang mở ra những hướng nghiên cứu tiềm năng về tác động của bất định chính sách lên các hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời cung cấp thêm dữ liệu phục vụ cho các nghiên cứu về nắm giữ tiền và xem xét ảnh hưởng của EPU đến hiệu quả tài chính. Bên cạnh đó chỉ số WUI phục vụ nghiên cứu về vai trò điều tiết của bất định CSKT đến nắm giữ tiền đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp.
Khái quát về hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Theo Harrison (1974), hiệu quả là kết của việc đánh giá sự nỗ lực. Theo Yuchtman và Seashore (1967), hiệu quả tài chính của doanh nghiệp được thể hiện qua khả năng có thể khai thác được thị trường bằng nguồn lực hữu hạn của chính doanh nghiệp.