Chương 1 - Giới thiệu tổng quan nghiên cứu - Nội dung của chương là giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng & phạm vi nghiên cứu, và ý nghĩa của luận văn. Chương 2 - Cơ sở lí thuyết & Mô hình nghiên cứu đề xuất - Nội dung của chương là trình bày chủ yếu về các lý thuyết nền về cầu tiền, cân bằng trên thị trường tiền tệ, qua đó đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu & Dữ liệu nghiên cứu - Chương này đi sâu vào các mô hình nghiên cứu, phương pháp tiếp cận của mô hình ARDL, các kỹ thuật phân tích và xử lí dữ liệu nghiên cứu. Chương 4 - Phân tích kết quả nghiên cứu - Đây là chương quan trọng nhất, thể hiện những kết quả nghiên cứu và các phân tích từ các kết quả đạt được sau khi chạy các mô hình đề ra trong chương trước.
Trả lời cho phần câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu. Chương 5 - Kết luận & Khuyến nghị - Tóm tắt các kết quả nghiên cứu đạt được, nêu lên ý nghĩa, hạn chế và các hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo. Từ đó nêu lên những kiến nghị phù hợp cho việc điều hành chính sách. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT & MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung của chương là trình bày chủ yếu về các lý thuyết nền về cầu tiền, cân bằng trên thị trường tiền tệ, qua đó đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với mục tiêu đã đề ra.
Cơ sở lý thuyết: Trong phân tích lí thuyết về mô hình cầu tiền, có ba nhóm mô hình lý thuyết chính đại diện cho ba hướng tiếp cận về cầu tiền là: Lý thuyết về cầu tiền trong giao dịch Lý thuyết về cầu tiền tài sản Lý thuyết về cầu tiền của người tiêu dùng Trong đó, theo Hà Quỳnh Hoa (2008), đại diện của lý thuyết về cầu tiền trong giao dịch là trường phái kinh tế học cổ điển và tân cổ điển, với những nhà kinh tế học tiên phong trong lĩnh vực như Leon Walras, tiếp sau đó là Mills (1848), Wicksell (1906), Fisher(1911)…và các nhà kinh tế học tân cổ điển thuộc trường phái Cambridge mà đại diện là Pigou (1917), Marsall (1923)…Đặc biệt phải kể đến là các công trình nghiên cứu của Keynes (1936) đã phát triển và mở rộng các lý thuyết về cầu tiền trước đó, làm rõ hơn về mô hình cầu tiền cổ điển đó là mục đích nắm giữ tiền không chỉ phục vụ cho động cơ giao dịch mà còn có động cơ đầu cơ và dự phòng. Tiếp đến là thời gian hậu Keynes, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu khác về mô hình cầu tiền, tuy nhiên tụ chung thuộc hai mô hình lý thuyết về cầu tiền còn lại là mô hình về cầu tiền tài sản và mô hình về cầu tiền của người tiêu dùng. Mô hình lý thuyết về cầu tiền tài sản được nhà kinh tế học tân cổ điển Hicks (1935) xây dựng đầu tiên trên nền tảng lý thuyết giá trị truyền thống, tuy nhiên đến thời kỳ hậu Keynes, hướng nghiên cứu này mới được phát triển với Baumol (1952) và Tobin (1956) cùng với lý thuyết về cầu tiền dựa trên cách tiếp cận lý thuyết tồn kho. Trong đó trường phái kinh tế học hậu Keynes có những nghiên cứu nổi tiếng theo hướng cầu tiền tài sản ( hay mô hình cơ cấu đầu tư ) là trường phái Yale mà đại diện cho trường phái này là Tobin (1958), Fischer (1975), ngoài ra còn có Samuelson, T.
Wallace… Cuối cùng là trường phái Chicago với cách tiếp cận lý thuyết cầu tiền của người tiêu dùng mà đại diện nổi bật nhất của trường phái này là Friedman. Theo đó, ông đã đưa lý thuyết cầu tiền nói chung bằng cách coi tiền là một loại tài sản mà nó mang lại lợi ích cho người nắm giữ. 7 Như vậy, cả ba hướng tiếp cận lý thuyết về cầu tiền tuy khác nhau nhưng điểm chung là đều tụ chung với kết quả giống nhau: khối lượng cầu tiền thực tế nghịch chiều với các biến phản ánh chi phí cơ hội ( lãi suất, lạm phát, tỷ giá…) của việc nắm giữ tiền và thuận chiều với biến quy mô ( GDP, GNP, GNE…) Với hướng tiếp cận lý thuyết cầu tiền theo nhánh phát triển từ trường phái tân cổ điển, nghiên cứu sử dụng công trình nghiên cứu của tác giả Blanchard (2000) và lý thuyết về cầu tiền hiện đại của Friedman làm cơ sở lý thuyết nền trong việc miêu tả lý thuyết cầu tiền chính cho nghiên cứu. Lý thuyết cầu tiền của Oliver Blanchar: Cầu tiền Theo Blanchard (2000), “Macroeconomic”, thì cầu tiền Md của một cá nhân phụ thuộc hai biến số là mức độ giao dịch của người đó và lãi suất.
Cầu tiền MD của toàn bộ nền kinh tế là tổng số cầu tiền của tất cả các cá nhân trong nền kinh tế, do đó cầu tiền của nền kinh tế phụ thuộc vào toàn bộ giao dịch trong nền kinh tế và lãi suất. Việc đo lường tất cả các hoạt động giao dịch trong nền kinh tế là rất khó nên giả định rằng nó tỷ lệ xấp xỉ với thu nhập danh nghĩa ( nếu thu nhập danh nghĩa tăng lên 10% thì cũng hợp lí khi cho rằng số lượng giao dịch trong nền kinh tế cũng tăng xấp xỉ 10% ). Do đó chúng ta có mối quan hệ giữa cầu tiền, thu nhập danh nghĩa và lãi suất như sau: MD = Y$ L(i) (1.1) Trong đó: MD : cầu tiền của nền kinh tế Y$ : GDP danh nghĩa ( tổng sản phẩm quốc nội theo danh nghĩa) L(i) : hàm số của lãi suất (i) của nền kinh tế ( lãi suất trung bình của trái phiếu chính phủ trong năm ) Từ phương trình cầu tiền ta thấy: Cầu tiền MD tăng theo tỷ lệ tăng của thu nhập danh nghĩa Cầu tiền tỷ lệ nghịch với lãi suất (i), việc tăng lãi suất sẽ làm giảm cầu tiền của nền kinh tế. Cân bằng cung cầu tiền trong nền kinh tế Khi Ngân hàng TW quyết định cung một lượng tiền M vào nền kinh tế, lúc này cân bằng tài chính trên thị trường khi cung tiền bằng cầu tiền, nghĩa là MS = MD 8 Sử dụng phương trình cầu tiền (1.1), ta có điều kiện cân bằng là: M = Y$ L(i) (1.2) Cung tiền = cầu tiền Phương trình (1.2) ngụ ý rằng lãi suất phải ở một mức sao cho mọi người sẵn lòng nắm giữ một lượng tiền bằng với lượng cung tiền M từ Ngân hàng TW, quan hệ này chính là quan hệ LM.
Hình dưới thể hiện cân bằng cung cầu tiền trên thị trường, A là điểm cân bằng trên thị trường, tại A ứng với mức cung tiền M và lãi suất i. Ta thấy hàm cung tiền MS không phụ thuộc vào lãi suất trên thị trường, trong khi đó hàm cầu tiền MD biểu hiện là đường đi xuống và tỷ lệ nghịch với lãi suất trên thị trường. Cân bằng cung –cầu tiền ban đầu trên thị trường tài chính (Nguồn: O. Blanchard (2000), Macroeconomics) Trong tình huống thu nhập danh nghĩa tăng, đường cầu tiền dịch sang phải, điểm cân bằng mới dịch từ điểm A ban đầu lên điểm A’.
Tại điểm cân bằng mới A’, có tỷ lệ lãi suất tương ứng i’ cao hơn i: tăng thu nhập danh nghĩa dẫn đến tăng lãi suất. Với lãi suất i ban đầu, khi cầu tiền vượt quá cung tiền cố định, việc tăng lãi suất là cần thiết để giảm số lượng tiền mà người ta muốn nằm giữ và thiết lập cân bằng về tiền mới. Cân bằng cung –cầu tiền khi tăng cầu tiền (Nguồn: O. chỉ ra tác động của tăng cung tiền đối với lãi suất.
Điểm cân bằng ban đầu là điểm A’ với lãi suất i’, tăng cung tiền từ M lên M’làm cho đường cung tiền dịch phải MS thành MS’. Cân bằng mới hình thành tại A’’, lãi suất giảm từ i’ xuống i, như vậy việc tăng cung tiền sẽ làm giảm lãi suất trung bình trên thị trường. Cân bằng cung –cầu tiền khi tăng cung tiền mới (Nguồn: O. Blanchard (2000), Macroeconomics) Cầu tiền thực – cung tiền thực Chúng ta nhớ lại rằng thu nhập danh nghĩa chia cho mức giá bằng thu nhập thực Y, vì vậy ta chia hai vế phương trình cân bằng cung – cầu tiền cho P ta được: 10 𝑀 𝑌$ = 𝐿(𝑖) 𝑃 𝑃 Cung tiền thực = cầu tiền thực Ở đây chúng ta có điều kiện cân bằng của thị trường tiền tệ là cung tiền thực ( tổng lượng tiền tính theo hàng hóa chứ không phải theo tiền ) bằng với cầu tiền thực.
Ta có thể viết lại phương trình cân bằng như sau: 𝑀 𝑌$ = Y L(i), với Y = 𝑃 : là GDPthực của nền kinh tế 𝑃 Như vậy lúc này ta có thể thấy cầu tiền thực ( vế phải phương trình ) phụ thuộc vào thu nhập thực Y và lãi suất i của thị trường. Lý thuyết cầu tiền của Friedman: Friedman (1956) đã xây dựng mô hình hàm cầu tiền dựa theo lý thuyết lượng tiền và được các nhà kinh tế áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu. Tác giả cho rằng tiền là một loại tài sản mà nó mang lại lợi ích cho người nắm giữ, cầu về tiền chịu tác động từ các yếu tố liên quan đến nhu cầu sở hữu các loại tài sản khác. Với cách tiếp cận dựa trên lý thuyết cầu tiền tài sản, Friedman đã đề xuất mô hình hàm cầu tiền như sau: 𝑀𝐷 = f ( YP(+) , rb - rm(-) , re - rm(-) , πe - rm(-) ) 𝑃 Trong đó: 𝑀𝐷 o : cầu tiền thực 𝑃 o YP : thu nhập trong dài hạn o rm : lợi nhuận kì vọng của tiền tệ o rb : lợi nhuận kì vọng của trái phiếu o re : lợi nhuận kì vọng của cổ phiếu o πe : tỷ lệ lạm phát kì vọng Theo Friedman, cầu tiền có mối quan hệ thuận chiều với biến thu nhập trong dài hạn YP, tương tự đề xuất của Blanchard (2000): khi thu nhập tăng trong dài hạn thì mức độ giao dịch của nền kinh tế tăng kéo theo nhu cầu về tiền của người dân tăng theo để phục vụ cho quá trình trao đổi gia tăng này.
Mặt khác, ngoài nhu cầu nắm giữ tiền mặt người dân còn có thể giữ nhiều loại tài sản khác dưới nhiều hình thức khác nhau như trái phiếu, cổ phiếu, hàng hóa…Việc quyết định giữ tiền hay các loại tài sản khác thay thế tiền còn phụ thuộc vào lợi nhuận kì vọng của các loại tài sản thay thế này mang lại.