BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM NGUYỄN VĂN ĐẠT NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN NỀN KINH TẾ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á: SỬ DỤNG MÔ HÌNH VECTOR TỰ HỒI QUY THEO DỮ LIỆU BẢNG ( PVAR) LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM NGUYỄN VĂN ĐẠT NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN NỀN KINH TẾ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á: SỬ DỤNG MÔ HÌNH VECTOR TỰ HỒI QUY THEO DỮ LIỆU BẢNG ( PVAR) Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. DIỆP GIA LUẬT Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015 DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT CSTK Chính sách tài khóa CSTT Chính sách tiền tệ GDP Tổng sản phẩm quốc nội GOVS Chi tiêu chính phủ FED Lãi suất Quỹ liên bang của FED IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế IRT Lãi suất danh nghĩa NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM Ngân hàng thương mại NSNN Ngân sách Nhà nước PRICE Chỉ số giảm phát theo GDP M2 Tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 WB Ngân hàng thế giới DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Tóm tắt nội dung quản lý cầu của chính phủ .1: Danh sách các quốc gia trong bài nghiên cứu.2: Tổng hợp các biến sử dụng trong bài nghiên cứu .1: Thống kê mô tả các biến trong bài nghiên cứu .2: Ma trận tương quan các biến trong bài nghiên cứu…………… .3: Kết quả kiểm định tính dừng các biến trong bài nghiên cứu .4: Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu.5: Kết quả kiểm định tự tương quan theo kiểm định LM đối với mô hình VAR độ trễ 3.6: Kết quả phân rã phương sai mà cú sốc GOVS đóng góp vào các biến còn lại .7: Kết quả phân rã phương sai mà cú sốc IRT đóng góp vào các biến còn lại .65 DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Mô hình đường IS - LM .1: Kết quả kiểm định vòng tròn đơn vị đối với mô hình Var độ trễ 3 .2: Kết quả hàm phản ứng đẩy của cú sốc IRT đến các biến còn lại .3: Kết quả hàm phản ứng đẩy của cú sốc GOVS đến các biến còn lại……….61 1 CHƢƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài: Nghiên cứu về tác động của chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK) lên nền kinh tế luôn là một đề tài rất thú vị và quan trọng, được nhiều nhà kinh tế học cũng như các nhà hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu.
Đặc biệt là ở các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á, vai trò của CSTT và CSTK lại càng trở nên quan trọng trong việc điều hành kinh tế vĩ mô quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn khá nhiều quan điểm trái chiều về vai trò và tác động của các chính sách này đối với nền kinh tế, công cụ nào sẽ hữu hiệu hơn trong việc đảm bảo mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế, và những tranh luận khác về sự cần thiết của việc phối hợp linh hoạt hai công cụ chính sách này. Mặc dù hiệu quả tương đối của hai chính sách này đã được nghiên cứu rộng rãi trong nhiều tài liệu, nhưng đến nay các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm vẫn chưa thể dẫn tới kết luận thống nhất về mối tương quan giữa CSTK và CSTT trong việc tác động đến sự phát triển kinh tế, các cuộc tranh luận vẫn còn tiếp diễn. Một số nhà kinh tế cho rằng nên sử dụng CSTT và kết luận rằng CSTT có tác động mạnh đến nền kinh tế và nó cũng chi phối CSTK trong quá trình tác động lên tăng trưởng và đầu tư.
Một số nhà kinh tế khác lại kết luận rằng CSTK có tác dụng hữu hiệu trong điều hành kinh tế. Trong khi đó, quan điểm phối hợp linh hoạt hai công cụ chính sách này để điều hành kinh tế quốc gia lại được nhiều nhà kinh tế ủng hộ. Về thực tiễn, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã ảnh hưởng sâu rộng đến hầu hết các quốc gia trên thế giới, gây ra những tổn thất vô cùng to lớn đối với nền kinh tế thế giới nói chung và các nước đang phát triển ở Châu Á nói riêng: GDP toàn cầu sụt giảm nghiêm trọng, tình hình thất nghiệp gia tăng dẫn đến nhiều vấn 2 nạn xã hội nguy hiểm khác. Chính phủ các nước đứng trước thử thách phải điều hành nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, đưa ra những biện pháp kích cầu kinh tế giúp quốc gia ổn định tăng trưởng, tạo việc làm cho người dân, đồng thời cần lựa chọn được những phương thức điều hành kinh tế vĩ mô phù hợp, tránh những cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính tương tự có thể xảy ra.
Do đó, việc lựa chọn sử dụng và phối hợp sao cho hiệu quả giữa CSTK và CSTT ngày càng trở nên cấp bách hơn. Nhiều nhà kinh tế cũng cho rằng nên kết hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa CSTT và CSTK để điều hành kinh tế vĩ mô thì sẽ đem lại hiệu quả tối ưu hơn, song việc kết hợp này cần dựa trên tìm hiểu về cơ chế tác động của từng chính sách lên nền kinh tế và sự tương quan giữa các chính sách với nhau. Từ những thực trạng trên, việc nghiên cứu về định tính và định lượng tác động của CSTK và CSTT góp phần quan trọng trong phát triển lý thuyết kinh tế học nói riêng và đưa ra cơ sở khoa học kinh tế cho những giải pháp giúp nâng cao hiệu quả các chính sách điều hành nền kinh tế Việt Nam nói chung. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đến nền kinh tế các nƣớc đang phát triển ở Châu Á: Sử dụng mô hình Vector tự hồi quy theo dữ liệu bảng (PVAR)” để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ.
Bài nghiên cứu sẽ đóng góp bằng chứng thực nghiệm về tác động của CSTK và CSTT tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á, là những quốc gia có nền kinh tế đang có sự phát triển mạnh mẽ ở khu vực, có nhiều nét khá tương đồng về kinh tế.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu tìm hiểu xu hướng và mức độ tác động của CSTT và CSTK đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế các nước đang phát triển ở Châu Á trong ngắn hạn và dài hạn. Đề tài cũng so sánh sự hiệu quả của mỗi chính sách, đánh giá chính sách nào sẽ hữu hiệu hơn trong điều tiết kinh tế, đảm bảo các mục tiêu tăng trưởng phát triển kinh tế. Từ đó, đề xuất các khuyến nghị trong xây dựng và điều hành chính sách tài chính và chính sách tiền tệ hiệu quả hơn trong điều hành kinh tế ở Việt Nam.
Dựa trên quá trình nghiên cứu tìm hiểu các tác động của chính sách tài khóa và 3 chính sách tiền tệ, nhằm giải quyết được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, bài nghiên cứu tập trung lần lượt trả lời các câu hỏi sau: Hiệu quả tác động của cú sốc chính sách tiền tệ (thông qua lãi suất danh nghĩa và sốc chính sách tài khóa ( thông qua chi tiêu chính phủ) đến nền kinh tế như thế nào? Chính sách nào sẽ có tác động quan trọng hơn, hiệu quả hơn đến nền kinh tế? Sự lan truyền, tác động tương quan giữa CSTK và CSTT như thế nào? 1.3 Phƣơng pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng nghiên cứu định lượng để kiểm tra tác động của CSTT và CSTK lên các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế. Kết hợp việc tóm tắt, hệ thống các lý luận kinh tế học về CSTT và CSTK để làm nền tảng lý thuyết cho bài nghiên cứu. Tác giả sử dụng mô hình nghiên cứu với giả định là tăng trưởng kinh tế, lạm phát chịu ảnh hưởng của các biến số vĩ mô như: Lãi suất, chi tiêu chính phủ, cung tiền và ngoài ra còn ảnh hưởng lãi suất ngân hàng trung ương của Mỹ. Sử dụng mô hình tự hồi quy vecto theo dữ liệu bảng Đầu tiên kiểm định tính dừng của các biến bằng và chạy mô hình VAR với các bậc dừng tìm thấy.
Tiếp theo, đề tài tìm độ trễ tối ưu cho mô hình VAR dựa vào các tiêu chuẩn như LR, AIC và xem xét vòng tròn đơn vị và tương quan của từng độ trễ. Sau khi có độ trễ phù hợp, tác giả chạy mô hình VAR với độ trễ đó. Từ mô hình VAR cho ra kết quả hàm phản ứng đẩy và tiến hành kiểm định phân rã phương sai.Bài nghiên cứu sẽ tiến hành kiểm định tác động của chính sách tiền tệ, sau đó là chính sách tài khóa. Đồng thời tìm hiểu tác động lan truyền giữa hai chính sách trong quá trình tác động đến nền kinh tế.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Phân tích các biến số vĩ mô của nền, các công cụ điều hành chính sách kinh tế bao gồm tăng trưởng kinh tế, tổng chi tiêu của Chính phủ ( đại diện cho Chính sách tài khóa), lãi suất ngân hàng trung ương (đại diện cho Chính sách tiền tệ), xác nhận về sự tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á.
Phạm vi nghiên cứu: Được thực hiện thông qua phân tích dữ liệu năm tại 12 quốc gia đang phát triển ở Châu Á (Việt Nam, Philippin, Jordan, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Sri Lanka, Lebanon, Bahrain, Trung Quốc, Bangladesh) trong giai đoạn từ 1990 – 2014.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Hiện nay ở Việt Nam đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, trong đó đa phần là các nghiên cứu lý thuyết mang tính chất tổng hợp, phân tích và đánh giá, vẫn còn chưa nhiều các nghiên cứu thực nghiệm dựa trên các số liệu thực tế để đánh giá tác động của hai chính sách vĩ mô này. Bài nghiên cứu sẽ thực hiện những nghiên cứu thực nghiệm tác động của CSTK và CSTT, cũng như kiểm định mối tương quan giữa giữa hai loại hình chính sách này, đóng góp nghiên cứu thực tế vào những cuộc tranh luận về hiệu quả sử dụng của các công cụ chính sách này.