Chương 1: Giới thiệu trình bày tổng quan các nội dung chính của luận văn và giải thích lý do tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: Mô hình nghiên cứu và giải thích các biến được sử dụng để phân tích. Chương 4: Kết quả phân tích thực nghiệm.
Chương 5: Gợi ý chính sách tỷ giá hướng đến mục tiêu cân bằng cán cân thương mại. -5- CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tỷ giá hối đoái thực đến cán cân thƣơng mại Trước khi mô hình kiểm định biên ARDL do Pasaran, Shin và Smith (2001) thực hiện để kiểm định đồng liên kết giữa các biến thì trước đó, việc này được thực hiện dựa vào kỹ thuật của Johansen (1988) và kiểm định nhân quả của Engle và Granger (1987). Tác giả xin tóm lược một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai biến này, bao gồm: - Nghiên cứu về cán cân thương mại Thái Lan, Malaysia và Indonesia với Mỹ và Nhật dùng kỹ thuật Johansen trong mô hình hiệu chỉnh sai số VECM. - Nghiên cứu Thụy Điển với các đối tác thương mại dùng mô hình kiểm định biên ARDL.
- Nghiên cứu Malaysia với các đối tác thương mại dùng mô hình kiểm định biên ARDL.2 Tác động của tỷ giá hối đoái thực đến các cân thƣơng mại giữa Thái Lan, Malaysia và Indonesia với Mỹ và Nhật Nghiên cứu của tác giả Olugbenga Onafowora trong bài viết “ Exchange rate and trade balance in east asia: is there a J−curve ? ” năm 2003 xác định mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá thực song phương của 3 nước Asean là Thailand, Malaysia và Indonesia với Mỹ và Nhật. Tác giả sử dụng dữ liệu từ 1980Q1 đến 2001Q4 và mô hình được sử dụng trong nghiên cứu là mô hình vector hiệu chỉnh sai số (VECM- vector error correction model). Tác giả xác định tính động của cán cân -6- thương mại bằng mô phỏng hàm đáp ứng xung được giới thiệu bởi Pesaran and Shin (1998) để xác định hiệu ứng đường cong J. Kiểm định đồng liên kết của Johansen (1988) được sử dụng để xác định cân bằng dài hạn giữa cán cân thương mại song phương, tỷ giá thực song phương và thu nhập quốc nội và thu nhập nước ngoài.
Sau đó, kiểm định CUSUMQ được phát triển bởi Brown, Durbin and Evans (1975) được thực hiện để xác nhận tính ổn định của các hệ số. Sử dụng mô hình vector hiệu chỉnh sai số để xử lý các biến trong mô hình, tác giả đánh giá một cách tổng quát các hàm đáp ứng để tìm hiệu ứng của tỷ giá thực song phương đối với tỷ lệ thương mại song phương. Trong tất cả các trường hợp thì phân tích đồng liên kết cho thấy mối tương quan chặt trong dài hạn giữa cán cân thương mại, tỷ giá thực, thu nhập thực quốc nội và nước ngoài. Kiểm định CUSUMSQ khẳng định mô hình là tương đối ổn định trong giai đoạn phân tích.
Đối với thương mại song phương Indonesia và Malaysia với Mỹ và Nhật, và Thailand với Mỹ, tác giả tìm thấy có hiệu ứng đường cong J trong ngắn hạn. Với việc giảm giá thực, nghiên cứu cho thấy có sự sụt giảm cán cân thương mại ban đầu kéo dài khoảng 4 quý nhưng sau đó là có sự cải thiện. Mẫu hình đáp ứng không ủng hộ giả thuyết đường cong J truyền thống nhưng phù hợp với mẫu đường cong S được mô tả bởi Backus et al (1994) và Marwah and Klein (1996). Ngoài ra, kết quả phân tích đáp ứng xung cho thấy điều kiện Marshall-Lerner được giữ trong dài hạn với mức độ khác nhau của hiệu ứng đường cong J trong ngắn hạn.
Dựa vào điều kiện Marshall-Lerner, việc tiếp tục giảm giá đồng nội tệ của các nước Đông Nam Á với đồng USD và đồng Yen sẽ dẫn đến sự cải thiện cán cân thương mại của các nước này với Mỹ và Nhật. Tuy nhiên, sự cải thiện này sẽ chỉ xảy ra sau khi giảm giá thực ba hay bốn quý.3 Tác động của tỷ giá hối đoái thực đến các cân thƣơng mại giữa Thụy Điển và các đối tác thƣơng mại Trước đó, có hai nghiên cứu cán cân thương mại của Thụy Điển với thế giới là của hai tác giả Bahmani-Oskooee và Niroomand (1998) và sau này là nghiên cứu của Hatemi-J (2003). Họ đo lường tác động của tỷ giá thực đa phương đối với cán cân thương mại của Thụy Điển và thế giới. Tác giả có trích dẫn trong nghiên cứu này rằng việc đánh giá dựa trên dữ liệu này sẽ bị hiện tượng sai lệch dựa trên dữ liệu tổng (Aggregate bias).
Nghiên cứu trước đó của Hatemi-J và Irandoust (2005) thực hiện cho trường hợp Thụy Điển với 6 đối tác thương mại và sử dụng dữ liệu năm giai đoạn 1960-1999. Dựa trên hệ số co giãn thương mại song phương, hai tác giả cho rằng điều kiện Marshall-Lerner chỉ đúng ở trường hợp Thụy Điển với Đức. Năm trường hợp còn lại là Đan Mạch, Pháp, Na Uy, Anh và Mỹ thì việc giảm giá thực của đồng krona Thụy Điển không tác động có ý nghĩa đối với cán cân thương mại song phương giữa Thụy Điển với những nước này. Nghiên cứu của Bahmani-Oskooee et al.
(2005) về thương mại giữa Úc và Thụy Điển đánh giá hiệu ứng ngắn hạn và dài hạn được thực hiện bằng việc giảm giá thực đồng dollar Úc đối với cán cân thương mại song phương của 23 đối tác, trong đó có Thụy Điển. Kết quả cho thấy việc giảm giá thực đồng dollar Úc so với đồng krona Thụy Điển đã cải thiện trong ngắn hạn đối với cán cân thương mại song phương hai nước nhưng không kéo dài ở dài hạn. Và nghiên cứu của Irandoust (2006) trong trường hợp của Thụy Điển và 8 đối tác thương mại dựa trên dữ liệu hàng năm cho thấy điều kiện Marshall-Lerner chỉ đúng trong trường hợp Thụy Điển và hai đối tác là Pháp và Hà Lan. Các tác giả gồm Mohsen Bahmani-Oskooee và Artatrana Ratha thực hiện nghiên cứu hiệu ứng đường cong J của Thụy Điển với 17 đối tác thương mại, sử dụng mô hình ARDL để đánh giá tác động ngắn hạn và dài hạn của việc giảm giá thực đồng krona.
-8- Giai đoạn thực hiện nghiên cứu là Q1/1980:Q4/2005 và nguồn dữ liệu phân tích được lấy từ IMF. Kết quả phân tích ngắn hạn cho thấy hiện tượng đường cong J chỉ xảy ra trong 5 trường hợp, đó là Áo, Đan Mạch, Ý, Hà Lan và Anh khi các hệ số trong ngắn hạn là âm và theo sau đó là dấu dương. Ví dụ như trường hợp của Áo, cán cân thương mại sẽ bị thâm hụt trong 4 quý liên tiếp và sẽ cải thiện ở quý thứ 5 khi giảm giá thực đồng krona. Kết quả được thể hiện ở bảng 2.
Trong khi đó, Nhật, Na Uy và Mỹ có hiện tượng đảo ngược.1: Hệ số mô phỏng ngắn hạn cán cân thƣơng mại Thụy Điển và đối tác Lags of ΔLog REX Trading 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 EC(-1) Partner -0.02) Note: Figurance in parentheses represent absolute values of t-statistics Với mức ý nghĩa 10%, kết quả phân tích trạng thái dài hạn ở bảng (2.2) cho thấy tỷ giá thực song phương có tác động có ý nghĩa cải thiện cán cân thương mại trong -9- trường hợp của Na Uy (hệ số của biến logREX dương) và không có ý nghĩa đối với trường hợp của Đức, Ý, Thụy Sỹ, Anh và Mỹ. Vì vậy, các hiệu ứng âm trong ngắn hạn đã không thể kéo dài đến dài hạn đối với 5 trường hợp này.2: Hệ số mô phỏng dài hạn cán cân thƣơng mại Thụy Điển và đối tác Trading Partner Log REXj Log Ys LogYi Intercept (country) 0.61) Note: Figures in parentheses represent absolute values of t-Statistics 2.4 Tác động của tỷ giá hối đoái thực đến các cân thƣơng mại giữa Malaysia và 14 đối tác thƣơng mại chính Báo cáo được thực hiện bởi Bahmani-Oskooee, Mohsen và Harvey, được xuất bản năm 2008 mang tiêu đề “ The J-curve: Malaysia versus her major trading partners ”. -10- Tổng cộng 14 nước được nghiên cứu trong mô hình gồm Úc, Trung Quốc, Pháp, Đức, Hong Kong, Ấn Độ, Indonesia, Nhật, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Philippines, Anh và Mỹ. Dữ liệu thực hiện lấy theo hàng quý từ 1973Q1 đến 2001Q3.
Phương pháp kiểm định đồng liên kết được thực hiện theo mô hình kiểm định biên ARDL của Parasan, Shin, Smith. Kết quả phân tích ngắn hạn thể hiện ở bảng (2.3) cho thấy mẫu hình đường cong J xuất hiện chỉ trong trường hợp Đức khi logREX xuất hiện giá trị âm tại độ trễ bậc 0 và đổi dấu sau một chu kỳ là 3 tháng. Trạng thái dài hạn được thể hiện ở bảng (2.4) cho thấy hệ số hồi quy có ý nghĩa ở mức 10% trong trường hợp Pháp, Ấn Độ, Indonesia, Singapore. Theo định nghĩa mở rộng về hiệu ứng đường cong J của Rose và Yellen (1989, trang 67) thì điều kiện là (1) có hiệu ứng đổi dấu từ âm sang dương khi phân tích trạng thái ngắn hạn hoặc (2) có hiệu ứng dương khi phân tích dài hạn và đồng thời hệ số mô phỏng ngắn hạn âm có ý nghĩa hay hệ số ngắn hạn không có ý nghĩa.
Như vậy, theo định nghĩa mở rộng này thì hiệu ứng đường cong J xuất hiện ở trường hợp Pháp và Singapore. Trường hợp Đức mặc dù thỏa mãn trong ngắn hạn nhưng không thể kéo sang dài hạn khi hệ số mô phỏng dài hạn không có mức ý nghĩa.3: Hệ số mô phỏng ngắn hạn cán cân thƣơng mại Malaysia và đối tác Australia China France Germany Hong Kong India Indonesia Δlog REX 0.047 Δlog REX t-7 Δlog REX t-8 ECM(-1) -0.103 -11- Note: Figures inside the parentheses represent absolute value of t- statistics, At 5% value of signific comparable figure with 1 degree of freedom is 3.84 Japan Korea Philippines Singapore Thailand UK USA Δlog REX 0.126) Δlog REXt-6 Δlog REXt-7 Δlog REXt-8 ECM(-1) -0.550 Note; Figurance the critical value of Chi-squared statistics with 4 degrees of freedom is 9.4: Hệ số mô phỏng dài hạn cán cân thƣơng mại Malaysia và đối tác Country Constant Log Y Mγ Log Yj Log REX -14.81) Note: Figures in parentheses are so absolute values of the t-ratios. -12- KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 Hai khái niệm quan trọng được đề cập trong chương này là điều kiện Marshall- Lerner và hiệu ứng đường cong J. Điều kiện Marshall-Lerner cho rằng việc giảm giá đồng nội tệ có tác động dương đối với cán cân thương mại khi tổng hệ số co giãn giá của xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1.
Hiệu ứng đường cong J được quan sát dựa trên sự đảo dấu trong mô phỏng ngắn hạn của biến tỷ giá khi biến này có giá trị âm ở các bậc độ trễ thấp và đảo dấu ở các bậc độ trễ cao hơn.