CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CÁC VẤN ĐỀ CỦA KINH TẾ VĨ MÔ QUỐC TẾ Sau khi đọc xong chương này, người đọc có thể: • Giải thích được những đặc điểm làm làm phát sinh các vấn đề được kinh tế vĩ mô quốc tế; • Mô tả được những vấn đề kinh tế vĩ mô quốc tế thảo luận. Kinh tế vĩ mô quốc tế nghiên cứu các tương tác quy mô lớn giữa các nền kinh tế với nhau. Môn học theo tiếp cận “kinh tế vĩ mô” (macroeconomics) vì nó tập trung vào các biến số chính của toàn nền kinh tế, như tỷ giá hối đoái, giá cả, lãi suất, thu nhập, của cải và tài khoản vãng lai.
Từ “quốc tế” (international) hàm ý rằng môn học khám phá sâu hơn các mối liên kết giữa các quốc gia để hiểu được cách thức hoạt động của nền kinh tế toàn cầu. Các vấn đề của kinh tế vĩ mô quốc tế phát sinh từ ba (03) đặc điểm chính: (i) thế giới có nhiều đồng tiền; (ii) các quốc gia hội nhập về tài chính; và trong bối cảnh đó, (iii) các lựa chọn chính sách kinh tế được đưa ra. Các đồng tiền quốc gia và biến động tỷ giá Trong các lý thuyết kinh tế, hàng hóa thường được giả định là định giá bằng một loại tiền tệ chung, hoặc đôi khi không có đồng tiền nào được đề cập. Tuy nhiên, trong thực tế, hàng hoá luôn niêm yết bằng một loại tiền tệ nào đó và các quốc gia sử dụng các đồng tiền khác nhau.
Sự hiểu biết đầy đủ về cách hoạt động của nền kinh tế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu đòi hỏi phải nghiên cứu tỷ giá hối đoái (exchange rate) hay thường được gọi ngắn gọn là tỷ giá. Tỷ giá được hiểu một cách phổ biến là giá cả một đồng tiền được đo lường bằng một đồng tiền khác. Khi hoạt 1 động thương mại và đầu tư được thực hiện xuyên biên, biến động tỷ giá có thể tác động mạnh đến giá tương đối của hàng hóa, dịch vụ và tài sản trong nước và nước ngoài. Nghiên cứu về tỷ giá thường tập trung vào ba (03) nhóm chủ đề chính.
Tỷ giá vận động như thế nào? Khi nghiên cứu tỷ giá, điều quan trọng nhất là phải hiểu được cách thức vận động của tỷ giá. Các lý thuyết tỷ giá đều cố gắng trả lời cho các câu hỏi như: (i) Tỷ giá trên thị trường được xác định như thế nào?; (ii) Tại sao có những tỷ giá biến động mạnh trong trong khi những tỷ giá khác lại ổn định trong ngắn hạn?; (iii) Những yếu tố nào giải thích cho sự vận động của tỷ giá (sự tăng, giảm hoặc ổn định) trong dài hạn? Dựa trên sự khác biệt về hành vi của tỷ giá, các nhà kinh tế học chia thế giới thành hai nhóm quốc gia: nhóm nước có tỷ giá cố định (fixed/ pegged) và nhóm nước có tỷ giá thả nổi (floating) hoặc linh hoạt (flexible). Diễn biến của tỷ giá thả nổi và tỷ giá cố đinh a. Tỷ giá EUR/USD b.
Tỷ giá USD/CNY 1.8000 Nguồn: FRED Hình 1.1 là hai ví dụ minh hoạ cho hành vi của tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi. Hình (a) là diễn biến hàng ngày của tỷ giá euro (EUR) so với đô la Mỹ (USD)- một tỷ giá thả nổi điển hình. Trong giai đoạn 2000-2022 tỷ giá này thường xuyên biến động. Mức thay đổi hàng ngày trung bình của tỷ giá này là 0,65%.
Trái ngược với tỷ giá euro so với đô la Mỹ, tỷ giá này gần như không thay đổi trong giai đoạn từ năm 2000 – tháng 6/2005 ở mức CNY 8,2800/ USD và trong giai đoạn tháng 1/2008 – tháng 9/2010 ở mức CNY 6,8250/ USD. Từ tháng 10/2010 tỷ giá này bắt đầu có nhiều biến động hơn nhưng ở mức rất nhỏ so với tỷ giá EUR/USD. Mức thay đổi hàng ngày trung bình của tỷ giá USD/CNY là 0,0055%. Tại sao cần phải tìm hiểu sự vận động của tỷ giá? Nhóm chủ đề thứ hai tập trung thảo luận những ảnh hưởng của tỷ giá đến nền kinh tế.
Những câu hỏi cần làm sáng tỏ là: (i) Tỷ giá ảnh hưởng nền kinh tế thực như thế nào? (ii) Thay đổi tỷ giá ảnh hưởng giá quốc tế, cầu hàng hóa từ các nước và theo đó là sản lượng của các quốc gia như thế nào? (iii) Thay đổi tỷ giá ảnh hưởng đến giá trị của tài sản nước ngoài, và theo đó là thay đổi của cải quốc gia như thế nào? Trả lời cho những câu hỏi này sẽ cho thấy tại sao tỷ giá lại quan trọng đối với các kết quả hoạt động kinh tế và tại sao vấn đề tỷ giá lại là một trong những trọng tâm của việc hoạch định chính sách kinh tế. Thay đổi tỷ giá ảnh hưởng nền kinh tế theo hai cách: - Tỷ giá thay đổi làm thay đổi giá tương đối của hàng hóa trên phạm vi quốc tế. Cụ thể hơn, khi tỷ giá thay đổi, hàng hóa dịch vụ của một nước sẽ trở nên mắc hơn hoặc rẻ hơn tương đối so với hàng hóa dịch vụ của nước khác khi tính bằng cùng đơn vị tiền tệ. Ví dụ, khi euro giảm giá so với đô la Mỹ làm cho các hàng hoá dịch vụ do khu vực đồng euro sản xuất rẻ hơn (so với trước khi giảm giá) khi tính bằng đô la Mỹ.
Làm thay đổi giá tương đối của hàng hoá và dịch vụ của khu vực đồng euro so với hàng hoá và dịch vụ tại Mỹ. - Thay đổi tỷ giá làm thay đổi giá tương đối của tài sản trên phạm vi quốc tế. Biến động giá trị tài sản theo đó ảnh hưởng các công ty, chính phủ và cá nhân. Ví dụ, vào tháng 6/2010, các nhà đầu tư Thụy Sĩ đã nắm giữ 397 tỷ chứng khoán Mỹ bằng đồng đô la Mỹ.
Lúc này, $1 trị giá 1,05 franc Thụy Sĩ (CHF) và vì vậy, những tài sản này có giá trị 1,05 lần của 397, tương đương 417 tỷ franc. Một năm sau, $1 chỉ còn có giá trị là 0,85 franc. Với các yếu tố khác không đổi, giá trị các chứng khoán nhà đầu tư Thuỵ Sĩ nắm giữ chỉ còn 337 tỷ franc. Khoản lỗ 80 tỷ france này 3 được gọi là lỗ vốn (capital loss) tương đương khoảng 20% giá trị ban đầu của chứng khoán hoàn toàn là do thay đổi tỷ giá.
Khủng hoảng tiền tệ Bên cạnh việc tìm hiểu các chủ đề của tỷ giá trong những giai đoạn "bình thường", những giai đoạn bất thường của tỷ giá cũng thường xuyên xuất hiện và gây ra những tổn thất kinh tế lớn đòi hỏi cần phải quan tâm. Đó là những giai đoạn khủng hoảng tỷ giá hay còn gọi là khủng hoảng tiền tệ. Khi một đồng tiền đột ngột giảm giá trị mạnh so với đồng tiền khác sau một thời gian cố định hoặc được giữ ổn định tương đối, nền kinh tế phát hành đồng tiền đó được cho là rơi vào khủng hoảng tiền tệ (currency crisis). Khủng hoảng tiền tệ Hình 1.
Diễn biến tỷ giá USD/ARS Argentina từ tháng 12/2001 - tháng 4.0 1/2002 là một trong những cuộc 3.0 khủng hoảng tiền tệ khủng khiếp 2.0 nhất trong lịch sử. Trong một thập 1.5 kỷ trước khủng hoảng, peso 1.5 Argentina được giữ cố định với đô 0.0 1998-01-01 1998-09-01 1999-05-01 2000-01-01 2000-09-01 2001-05-01 2002-01-01 2002-09-01 2003-05-01 2004-01-01 2004-09-01 2005-05-01 2006-01-01 2006-09-01 2007-05-01 la Mỹ ở mức 1:1. Tuy nhiên, từ tháng 1/2002, tỷ giá cố định được thay bằng tỷ giá thả nổi. Một vài Nguồn: FRED tháng sau đó 1 peso Argentina chỉ có thể đổi được 0,25 đô la Mỹ; nói cách khác, 1 đô la Mỹ đã bằng 4 peso Argentina.
Tuy nhiên, bi kịch không chỉ dừng lại ở thị trường ngoại hối. Chính phủ Argentina tuyên bố không thể trả khoản nợ 155 tỷ đô la Mỹ đúng hạn; hệ thống tài chính gần như rơi vào tình trạng đóng cửa trong nhiều tháng; lạm phát tăng cao; sản lượng sụt giảm mạnh; thất nghiệp gia tăng và hơn 50% hộ gia đình Argentina rơi xuống dưới ngưỡng nghèo. Ở mức đỉnh điểm của khủng hoảng, bạo lực hoành hành và quốc gia đã thay đến năm (05) tổng thống trong vòng 2 tuần. Một thực tế là khủng hoảng tiền tệ xảy ra khá thường xuyên.
Những năm 90 của thế kỷ trước cũng đã chứng kiến khủng hoảng Mexico 1994, châu Á 1997, Nga 4 1998. Trong hầu hết các trường hợp, tỷ giá vốn ổn định trước khủng hoảng đều sẽ trải qua sự thay đổi lớn và bất ngờ. Khủng hoảng tiền tệ ở các nước % thay đổi trong 2 năm trước % thay đổi trong năm khủng hoảng Nguồn: Feenstra & Taylor (2021) Khủng hoảng tiền tệ gây ra những hệ quả theo một dạng khá phổ biến: sản lượng sụt giảm mạnh, những vấn đề yếu kém của hệ thống ngân hàng nổi lên, các khoảng nợ gia tăng, hộ gia đình và doanh nghiệp sụt giảm thu nhập; song song với những bất ổn kinh tế, sự rối loạn về chính trị cũng có thể phát sinh. Để đối phó với khủng hoảng, ngân sách chính phủ sẽ được sử dụng và do vậy thường trở nên xấu đi; chính phủ cũng có thể kêu gọi giúp đỡ bên ngoài từ các tổ chức quốc như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) hay Ngân hàng Thế giới (WB),.
Liên quan đến vấn đề này, các câu hỏi được đặt ra cần phải trả lời là: (i) Tại sao khủng hoảng tiền tệ xảy ra; (ii) Tại sao khủng hoảng gây ra tổn thất kinh tế và chính trị khổng lồ? (iii) Có những biện pháp gì để phòng ngừa khủng hoảng hay không, chi phí của những biện pháp đó như thế nào? 1. Tự do hoá lưu chuyển vốn Toàn cầu hóa tài chính đã diễn ra trên toàn thế giới, bắt đầu từ các nước phát triển và lan sang nhiều nước thị trường mới nổi. Toàn cầu hoá tài chính được định 5 nghĩa là mức độ các quốc gia được liên kết thông qua việc nắm giữ tài chính xuyên biên và thường được đại diện bởi tổng tài sản và nợ phải trả nước ngoài so với GDP (IMF, 2008). Cách vận hành trơn tru của thị trường tài chính quốc tế có thể làm cho các quốc gia trở nên tốt hơn bằng cách cho phép họ cho vay và đi vay.
Tuy nhiên, các tương tác tài chính không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Các vấn đề trên thị trường tài chính toàn cầu như rủi ro vỡ nợ, tháo chạy vốn hay dừng đột ngột dòng vốn có thể làm cho các lợi ích tiềm năng từ toàn cầu hóa không dễ dàng nhận ra trong thực tế. Mất cân bằng cán cân vãng lai Đối với tài chính gia đình, thu nhập và chi tiêu là những số liệu thường được theo dõi. Nếu chênh lệch hai số là dương (>0), hộ gia đình có thặng dư, ngược lại nếu là âm (<0), hộ gia đình bị thâm hụt.