CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Các khái niệm về CCKT Theo Easterly (2001), CCKT thường được sử dụng để chỉ nhiều bộ phận khác nhau cấu thành nền kinh tế. Thước đo truyền thống và phổ biến nhất là CCKT các khu vực theo lao động, tiêu dùng và các biến đo lường phân phối thu nhập. Theo Kuznets trong “TTKT các quốc gia xét theo khối lượng” đã xác định cụ thể hơn đưa vào phân tích là tỷ trọng trong GDP của các khu vực và một số biến liên quan đến thương mại (1960, được trích bởi Easterly , 2001). Còn theo Chenery và Syrquin (1957, được trích bởi Easterly, 2001), cơ cấu được chia thành 5 phần gồm: đầu tư, thu ngân sách, giáo dục, đô thị hóa và dịch chuyển về nhân khẩu học.
Theo Marjanovic (2010), mối quan hệ giữa TTKT, CCKT và sự thay đổi trong cơ cấu là rõ ràng. Từ “cơ cấu” chỉ ra rằng tổng thể được tạo thành bởi nhiều bộ phận liên kết với nhau. Khi thay đổi một bộ phận cấu thành nào đó trong tổng thể có nghĩa là chức năng, vai trò của các bộ phận khác đối với tổng thể cũng đồng thời thay đổi. CCKT có thể được xem xét như mối quan hệ các khu vực, lĩnh vực trong tổng sản phẩm nếu xét theo chiều dọc và mối quan hệ giữa các vùng trong một quốc gia xét theo chiều ngang.
CCKT liên quan trực tiếp đến các vấn đề về tiến bộ công nghệ, năng suất lao động, việc làm, lạm phát và các yếu tố trong hệ thống kinh tế, các chính sách kinh tế, thậm chí cả những yếu tố như khí hậu, văn hóa. Theo Perobelli và cộng sự (2011) thì định nghĩa CCKT dựa trên sự cấu thành trong tổng thể vĩ mô và có thay đổi tương đối về quy mô theo thời gian. Theo Jackson và cộng sự (1990, được trích bởi Perobelli, 2011 ) định nghĩa sự chuyển dịch CCKT là sự chuyển dịch theo thời gian trong sự tương tác giữa các khu vực kinh tế. Còn theo Takur (2011, được trích bởi Perobelli, 2011 ) hiểu sự thay đổi trong CCKT là quá trình điều chỉnh tầm quan trọng tương đối của các chỉ số chung trong nền kinh tế và để định nghĩa CCKT cần phân tích cấu thành và kiểu sản xuất, lao động, tiêu dùng, thương mại và tổng sản phẩm.
Có mối tương quan thuận giữa PTKT và sự chuyển dịch trong cơ cấu. Tương quan này cho rằng PTKT diễn ra ở đó sẽ có sự dịch chuyển mạnh mẽ và thay đổi trong mối quan hệ nội bộ các khu vực. Sự dịch chuyển này dẫn để nâng cao tầm quan trọng và sự tương tác lẫn nhau giữa các khu vực kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo Đinh Văn Ân và cộng sự (2008), chuyển dịch CCKT là sự thay đổi của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển.
Thực chất của chuyển dịch CCKT là sự phát triển không đều giữa các ngành, các lĩnh vực. Trong một nền kinh tế, chuyển dịch CCKT có thể diễn ra một cách tự phát hoặc có sự can thiệp của nhà nước hoặc kết hợp cả hai. Có thể thấy CCKT là tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện xã hội cụ thể, hướng vào thực hiện các mục tiêu đã định. Các loại CCKT sau đây thường hay được đề cập, đó là: CCKT ngành, CCKT theo thành phần kinh tế và CCKT theo vùng miền, trong đó cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế và mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành thể hiện ở vị trí và tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển cơ cấu ngành kinh tế từ ngành này sang ngành khác phù hợp với sự phát triển của phân công lao động xã hội và phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển khoa học- công nghệ.2 Các nguồn lực phát triển Theo Manuelli và Seshadri (2006), trong lý thuyết kinh tế, vấn đề “Tại sao các quốc gia giàu có hơn các nước khác?” thu hút sự quan tâm lớn của các nhà kinh tế. Có nghiên cứu cho rằng do sự khác biệt trong tỷ lệ vốn được tích lũy trên một đơn vị đầu ra (Solow, 1956, trích bởi Manuelli và Seshadri, 2006 ). Có nghiên cứu chỉ ra sự chênh lệch về nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong phân tích phát triển và TTKT ( Lucas, 1988, trích bởi Manuelli và Seshadri, 2006). Tuy nhiên, một kết luận ngược lại được đưa ra bởi Klenow (1997, trích bởi Manuelli và Seshadri, 2006), Hall (1999, trích bởi Manuelli và Seshadri, 2006) and Parente (2000, trích bởi Manuelli và Seshadri, 2006) và Bils (2000, trích bởi Manuelli và Seshadri, 2006) cho rằng hầu hết sự khác biệt trong sản lượng bình quân trên mỗi lao động không được quyết định bởi vốn lao động (hay vốn vật chất) mà được quyết định bởi phần dư, năng suất yếu tố tổng hợp TFP.
Theo Funke (1996), TTKT được xem xét dưới ba lý thuyết cơ bản, mỗi cách có một tiếp cận khác nhau đối với tăng trưởng. Đầu tiên là cách tiếp cận mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956, trích bởi Funke, 1996 ) chỉ ra tầm quan trọng của việc tích lũy vốn và tiết kiệm, sau đó được mở rộng bởi Cass (1965, trích bởi Funke, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 1996) and Koopmans (1965, trích bởi Funke, 1996). Cách thứ hai chỉ ra rằng tăng trưởng thông qua yếu tố tích lũy vốn và lao động, đại diện là Uzawa (1965, trích bởi Funke, 1996). Và cách tiếp cận thứ ba là giải thích tầm quan trọng của đóng góp yếu tố R&D, máy móc vào tăng trưởng, được phát triển bởi Romer (1990).
Bài viết xem xét mô hình mà ở đó tăng trưởng được quyết định bởi tích lũy vốn , tích lũy kiến thức, kỹ năng và sự tiến bộ công nghệ dựa trên hoạt động R&D. Đây là sự kết hợp của nghiên cứu Uzawa-Lucas và mô hình cơ bản của Grossman and Helpman (1991, trích bởi Funke, 1996) trong đó đề cập đến sự thay đổi công nghệ thông qua việc gia tăng các yếu tố đầu vào khác. Nghiên cứu đưa ra nhận xét rằng mô hình tăng trưởng tân cổ điển cũng như mô hình Uzawa-Lucas không chỉ bao gồm mô hình Grossman như một trường hợp đặc biệt mà mỗi mô hình đều có ý nghĩa đối với từng giai đoạn chuyển dịch trong quá trình phát triển. Năng suất lao động cao thông qua việc đào tạo, giáo dục cùng với việc tạo ra các sản phẩm mới đảm bảo rằng nền kinh tế sẽ có những phát minh sáng chế.
Nếu như vốn đóng góp khoảng 50% vào tỷ lệ tăng trưởng ổn định thì một nửa còn lại được đóng góp do sự tăng lên trong chất lượng lao động và tiến bộ công nghệ với mức độ tương đương nhau. Có thể nói, trong khi những phát kiến công nghệ đóng vai trò như guồng máy của sự phát triển thì những kiến thức, kỹ năng lao động đóng vai trò như một động cơ các sáng kiến. Theo Easterly và Levine (2001) thì vấn đề trung tâm của tăng trưởng và PTKT không chỉ là nền kinh tế tăng tỷ lệ tiết kiệm và tích lũy vốn. Mặc dù có nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục xem chỉ tiêu tích lũy vốn là yếu tố động lực cho TTKT thì các tác giả này cho rằng ngoài việc tính toán tích lũy vốn vật chất và vốn con người thì còn có “phần dư khác” và người ta dùng TFP để đại diện cho “phần dư” này nhằm thể hiện những phần không giải thích được trong tăng trưởng.
Tóm lại, có thể thấy vai trò của các yếu tố đối với tăng trưởng. Vốn đầu tư là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định. Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích bổ sung TSCĐ, tài sản lưu động (Lê Xuân Bá, 2010). Còn lao động được coi là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình PTKT, và có sự tác động to lớn tới quá trình chuyển dịch CCKT.
Số lượng nguồn lao động được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như quy mô và tốc độ phát triển nguồn lao động. Chất lượng nguồn lao động được xem xét trên các mặt: Sức khoẻ, trình độ văn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hoá, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất. Và năng suất các yếu tố tổng hợp phản ánh sự đóng góp của các yếu tố vô hình như đổi mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của công nhân, chính sách hợp lý,… Tác động của TFP không trực tiếp như năng suất bộ phận như năng suất lao động và năng suất vốn mà phải thông qua sự biến đổi của lao động và vốn. Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp là tỷ lệ tăng lên của kết quả sản xuất do nâng cao năng suất tổng hợp chung.
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn lực sản xuất, làm căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng tăng trưởng cũng như tính chất phát triển bền vững của kinh tế, là cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ, đánh giá trình độ tổ chức, quản lý sản xuất,. của mỗi ngành, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia ( Lê Xuân Bá, 2010).3 Các lý thuyết liên quan a. Chuyển dịch CCKT theo mô hình hai khu vực Theo Jorgenson (1967) thì mô hình kinh tế hai khu vực được đưa ra bởi Lewis (1954), Fei và Ranis (1961) và sau đó được phát triển bởi chính tác giả Jorgenson (1967). Lý thuyết cổ điển cho rằng ở các nền kinh tế có hai khu vực kinh tế: Khu vực nông nghiệp truyền thống: được đặc trưng bởi năng suất lao động rất thấp, sản lượng thấp, thu nhập thấp, tiết kiệm thấp và thất nghiệp cao.
Sự di chuyển lao động sang khu vực thành thị không có tác động đáng kể đến sản lượng nông nghiệp khi mà năng suất lao động cận biên là 0. Khu vực công nghiệp hiện đại có đặc trưng năng suất lao động cao và có khả năng tự tích lũy. Do có năng suất lao động cao và tiền công cao hơn nên khu vực công nghiệp thu hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp. Lao động gia tăng, sản lượng cao hơn, thu nhập và lợi nhuận cao hơn sẽ dùng cho việc tái đầu tư.