Chương 1 TỒNG QUAN VẺ KINH TÉ HỌC v ĩ MÔ Trong chương này chúng ta sẽ được tiếp cận một cách có hệ thống về kinh tế học nói chung và kinh tế học vĩ mô nói riêng. Trong phần đầu của chương chúng ta sẽ đề cập đến những vấn đề cơ bản của kinh tế học như khái niệm của kinh tê học và phần nhánh của nó; những vấn đề kinh tế cơ bản trong hệ thống kinh tế. Sau đó, chúng ta sẽ tìm hiểu một sô"vấn đề then chốt của kinh tê học vĩ mô. NHỮNG VÁN ĐỀ Cơ BẢN CỦA KINH TẾ HỌC 1.
Kinh tế học và phân nhánh cùa kinh tế học 1. Kinh tế học Kinh tế học là một môn học nghiên cứu cách thức sử dụng nguồn lực khan hiếm nhằm thỏa mãn nhu cẩu vô hạn của con người một cách tốt nhất có thể. Theo khái niệm này thì nội dung cốt lõi của kinh tế học được hiểu là nghiên cứu cách thức lựa chọn mà các thành viên trong nền kinh tế (cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ hay xã hội) đưa ra khi họ phải đối mặt với sự khan hiếm nguồn lực. 7 - Khan hiếm được hiểu là sự thất bại của con người trong việc thỏa mãn tất cả các nhu cầu (mong muôn) của họ.
Ví dụ: Một sinh viên muốn mua một cuốn sách giá 50 nghìn đồng và một hộp đựng bút cũng có giá 50 nghìn đồng, nhưng trong túi bạn ấy chỉ có 50 nghìn đồng. Như vậy, bạn ấy phải đối mặt vối sự khan hiếm; Doanh nghiệp A có hai kê hoạch cần thực hiện: một là muốn xây dựng thêm nhà xưởng để mở rộng quy mô sản xuất và hai là đầu tư thêm nhiều máy móc, thiết bị mới nhưng chỉ huy động được vốn đầu tư đủ cho một phương án nên cũng đốì mặt với sự khan hiếm; Chính quyền địa phương muốn xây dựng và nâng cấp nhiều công trình kết cấu hạ tầng (đường bộ, đường sắt, sân bay, cảng biển.), đầu tư hệ thống chiếu sáng, lắp đặt thêm hệ thống đèn báo hiệu giao thông cho đường phô", thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. trong khi ngân sách địa phương có hạn, do đó chính quyền địa phương cũng phải đối mặt với sự khan hiếm. - Sự lựa chọn và đánh đổi.
Trong điềụ kiện nguồn lực khan hiếm, chúng ta phải lựa chọn giữa các phương án. ở ví dụ trên, bạn sinh viên phải lựa chọn giữa cuốn sách và hộp đựng bút. Doanh nghiệp A phải lựa chọn giữa xây dựng thêm nhà xưởng hoặc đầu tư thêm máy móc, thiết bị. Chính quyền địa phương phải lựa chọn giữa đầu tư vào kết cấu hạ tầng, hệ thống chiếu sáng, an sinh xã hội.
Như vậy, có thể nói lựa chọn giống như một sự đánh đổi, bạn phải quyết định hy sinh một thứ hoặc có thể nhiều thứ để nhận được thứ khác trong điều kiện khan hiếm nguồn lực. Phân nhánh của kinh tế học - Theo cách tiếp cận cơ bản, kinh tế học được chia thành hai phân nhánh lớn, đó là kinh t ế học vi mô và kinh t ế học vĩ mô. + Kinh tế học vi mô nghiên cứu hành vi, cách thức ra quyết định của các đơn vị kinh tế trong nền kinh tế (hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ). Ví dụ: Các hộ gia đình, để tối đa hóa lợi ích của mình, họ sẽ quyết định chọn mua hàng hóa và dịch vụ nào, với sô" lượng là bao nhiêu và tại mức giá nào.
Tương tự như vậy, các doanh nghiệp sẽ quyết định sản xuất hàng hóa, dịch vụ nào, số lượng bao nhiêu để tối đa hóa lợi nhuận của họ. Đồng thời, kinh tế học vi mô cũng nghiên cứu sự tương tác giữa các đơn vị kinh tế trên thị trường cụ thể. Chẳng hạn như, giữa doanh nghiệp và hộ gia đình, họ tạo ra cung cầu hàng hóa, dịch vụ như thê nào và quyết định mức giá, số lượng hàng hóa, dịch vụ trao đổi là bao nhiêu. Nói cách khác, kinh tế học vi mô nói đến sự am hiểu chi tiết trên từng thị trường cụ thể.
+ Kinh tê học vĩ mô nghiên cứu hành vi của tổng thể nền kinh tế hay cách thức mà nền kinh tê lựa chọn phân bổ nguồn lực qua đó quyết định tổng mức sản lượng, mức giá trung bình, việc làm, kim ngạch xuất nhập khẩu. cùng với các biến sô" khác của nền kinh tê". Như vậy, kinh tê" học vĩ mô quan tâm đến tổng mức sản lượng, mức giá trung bình của nền kinh tế, chứ không phải là mức sản lượng và mức giá của từng loại hàng hóa riêng lẻ. 9 Mặc dù kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các vấn đề khác nhau, nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Vì các biến số vĩ mô luôn phát sinh từ tương tác giữa các đơn vị kinh tế, cho nên muốn nghiên cứu nền kinh tê vói tư cách là tổng thể, chúng ta phải nghiên cứu và xem xét quyết định của các đơn vị kinh tê cá biệt như hộ gia đình, doanh nghiệp hay chính phủ. Điển hình như để đánh giá ảnh hưởng của việc chính phủ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối vối mức sản lượng của nền kinh tế thì cần phải xem xét ảnh hưởng của yếu tố giảm thuế đối với quyết định sản xuất hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp. - Theo cách sử dụng để đáp úng mục tiêu nghiên cứu, kinh tế học được chia thành hai dạng chính là kinh t ế học chuẩn tắc và kinh t ế học thực chứng. + Kinh tế học chuẩn tắc đưa ra những quan điểm cá nhân có tính chất khuyến nghị về vấn đề kinh tế nhằm trả lời cho câu hỏi Cần phải như th ế nào? cần phải làm gì? Ví dụ: Trong thời kỳ kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng thì chính phủ nên tăng cung tiền để tạo công ăn việc làm cho người dân.
Hoặc chính phủ nên tăng đầu tư vào giáo dục để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hoặc tăng thuế nhập khẩu là cần thiết để bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất trong nưốc. + Kinh tế học thực chứng mô tả và giải thích nền kinh tế một cách khách quan và khoa học, nhằm trả lời cho câu hỏi: Bao nhiêu? Là gì? Như th ế nào? Ví dụ: Tăng trưởng kinh tế quá nhanh làm tăng lạm phát. Hoặc khi các nhà 10 kinh tế phân tích và tính toán sô" liệu cụ thể về tăng trưỏng và tỷ lệ lạm phát để kiểm định, nhận định thực chứng trên.
Một nhận định thực chứng có thể đúng hoặc sai. Tuy nhiên, trong nghiên cứu kinh tế, người ta thường tiến hành từ kinh tế học thực chứng rồi mới chuyển sang kinh tế học chuẩn tắc. Các nhà kinh tế với tư cách là nhà khoa học thường sử dụng phương pháp nghiên cứu là đưa ra các lý thuyết, thu thập số liệu và sau đó phân tích dữ liệu để giải thích cho các lý thuyết đó và có cơ sở để họ lý giải các vấn đề về kinh tế. Chẳng hạn, họ phải giải thích tại sao tình trạng thất nghiệp của sinh viên tốt nghiệp ra trường tăng lên.
Các nhà hoạch định chính sách thông qua thực tế và sô" liệu phân tích cụ thể để giải thích và từ đó đưa ra các chính sách và giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, không phải lúc nào các nhà kinh tê" và các nhà hoạch định chính sách cũng nhất trí và đưa ra cùng quan điểm về chính sách kinh tê để giải quyết vấn đề bởi họ có những quan điểm khác nhau nên làm gĩĩ hoặc họ có những quan điểm khác nhau về cơ chê hoạt động của nền kinh tê". Ví dụ: Đổ khắc phục tình trạng thất nghiệp cho sinh viên ra trường, nhiều ý kiến đồng tình cho rằng nên tăng cường công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm trong các cơ sỏ giáo dục đại học, trung cấp chuyên nghiệp; đồng thời, phân tích và dự báo nhu cầu nhân lực, tăng cường gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Tuy nhiên, có ý kiến lại cho rằng nên đẩy mạnh công tác định hướng giáo dục 11 tiếp cận nghề nghiệp cho học sinh ngay từ trung học cơ sở và trung học phổ thông để góp phần hình thành đội ngũ nhân lực theo quy mô, cơ cấu nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu cơ cấu nhân lực cần sử dụng của thị trường lao động.
Định hướng ngay từ đầu mới là điều kiện cần thiết để giải quyết tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp. Rõ ràng, các nhà kinh tế với những triết lý khác nhau về một vấn đề cần đạt được sẽ có các chính sách đề xuất khác nhau. Chính vì vậy, việc nghiên cứu kinh tế học với tư duy mở sẽ giúp chúng ta có nhận thức khái quát về các vấn đề kinh tế - xã hội. Các yếu tố sản xuất, giới hạn khả năng sản xuất chi phí CO’ hội 2.
Các yếu tố sản xuất Các yếu tô' sản xuất hay còn gọi là các yếu tô" đầu vào của quá trình sản xuất bao gồm: vô'n sản xuất (tư bản), lao động, tài nguyên thiên nhiên và công nghệ. Đây là những yếu tô" mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng sử dụng trong quá trình sản xuất. Trong đó: + Vốn sản xuất là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất như: công xưởng, nhà máy, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu. + Lao động là năng lực của con người được sử dụng theo một mức độ nhất định trong quá trình sản xuất.
Lao động được thể hiện qua số lượng và chất lượng (kỹ năng, trình độ và kỷ luật). 12 + Tài nguyên thiên nhiên là tất cả nguồn lực của tự nhiên như đất đai, nhiên liệu, khoáng sản, sông ngòi, các loại năng lượng, không khí. + Công nghệ là tập hợp các phương pháp, kỹ năng, phương tiện và quy trình để biến đổi các nguồn lực thành những hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho con ngưồi. Đây là một trong những yếu tố sản xuất quan trọng nhất trong nền kinh tế tri thức.
Giới hạn khả năng sản xuất Giới hạn khả năng sản xuất được hiểu là sự hạn chế về năng lực sản xuất do nguồn lực khan hiếm. Đây là vấn đề mà bất kỳ một quốc gia nào cũng gặp phải với khả năng có hạn về vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ. Điển hình như Nhật Bản thiếu hụt về lao động; Singapore thiếu hụt về tài nguyên; Việt Nam thiếu hụt về vốn, công nghệ. Giói hạn khả năng sản xuất được mô tả thông qua đường giới hạn khả năng sản xuất.