Đặt vấn đề như vậy không phải nhằm đề cao một phạm trù kinh tế có tầm quan trọng, lợi hại đặc biệt mà cốt là để có một nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của tỷ giá hối đoái và trên cơ sở đó, cố gắng tiếp cận gần đúng những gì thuộc về bản chất của nó. Các cơ chế điều hành tỷ giá 1. Các cơ chế điều hành tỷ giá : a. Tỷ giá cố định : Là tỷ giá không biến động thường xuyên, không phụ thuộc vào quy luật cung cầu, mà phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của chính phủ.
Tỷ giá thả nổi tự do : Tỷ giá thả nổi tự do là cơ chế tỷ giá mà theo đó giá cả ngoại tệ sẽ do cung cầu quyết định và không có sự can thiệp của chính phủ. Trong chế độ tỷ giá thả nổi tự do, tỷ giá sẽ được quyết định bởi các lực lượng cung và cầu của ngoại tệ : nếu cung ngoại tệ > cầu ngoại tệ thì tỷ giá ngoại tệ sẽ giảm, ngược lại cầu ngoại tệ > cung ngoại tệ thì giá ngoại tệ sẽ tăng. Tỷ giá thả nổi có sự quản lý : Là tỷ giá thả nổi nhưng có sự can thiệp của chính phủ bằng cách sử dụng các công cụ tài chính tiền tệ hoặc công cụ hành chính để tác động lên tỷ giá hối đoái phục vụ cho chiến lược chung của nước mình. Tỷ giá thả nổi tập thể : Nổi bật nhất là hệ thống tiền tệ Châu Âu (EMS – European Monetary System 1978).
Ngày 09/05/1978, Nghị viện Châu Âu phê chuẩn 11 nước đủ tiêu chuẩn gia nhập EU – 11 : Đức, Pháp, Ailen, Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Ý, Lucxembua, Phần Lan, Tây Ban Nha (và vào ngày 01/01/2001 có cả Hy Lạp – EU – 12. Ngày 01/01/1999, EURO chính thức ra đời với đầy đủ tư cách một đồng tiền thực, chung và duy nhất cho cả khối EU – 12. Những yếu tố chủ yếu tác động đến tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái cân bằng sẽ thay đổi theo thời gian khi đường cung và đường cầu thay đổi. Các nhân tố tác động làm dịch chuyển đường cung và đường cầu được thảo luận dưới đây bằng cách phân tích ảnh hưởng của mỗi nhân tố lên đường cung và đường cầu.
Tỷ lệ lạm phát tương đối : Sự thay đổi trong tỷ lệ lạm phát tương đối có thể ảnh hưởng đến các hoạt động thương mại, đến lượt nó những hoạt động thương mại này tác động đến cầu tiền và cung tiền, và vì thế tác động đến tỷ giá hối đoái. Chúng ta giả định là cả công ty Anh và công ty Mỹ đều bán hàng hóa có thể thay thế lẫn nhau. Nếu lạm phát ở Mỹ tăng lên sẽ gây ra một sự gia tăng nhu cầu của Mỹ đối với hàng hóa Anh và vì thế cũng tạo ra một sự gia tăng trong nhu cầu của Mỹ đối với đồng bảng Anh. Thêm vào đó, sự tăng vọt trong lạm phát Mỹ sẽ làm giảm nhu cầu của người Anh đối với hàng hóa Mỹ và vì thế làm giảm cung đồng bảng Anh để mua hàng.
Theo hình, ở mức cân bằng trước là 1.55 đôla Mỹ sẽ có một sự thiếu hụt đồng bảng Anh trên thị trường ngoại hối. Cầu đồng bảng Anh đối với các 8 cư dân Mỹ tăng lên và cung đồng bảng giảm đã tạo sức ép gia tăng giá trị của đồng bảng Anh, giá trị cân bằng mới là 1.1 : Tác động của việc gia tăng lạm phát của Mỹ đến giá trị cân bằng của đồng bảng Anh S2 S Giá trị đồng bảng Giá trị đồng bảng S $1.50 D2 D D Số lượng đồng bảng Số lượng đồng bảng b. Lãi suất tương đối : Thay đổi trong lãi suất tương đối tác động đến đầu tư chứng khoán nước ngoài, đến lượt nó đầu tư chứng khoán nước ngoài lại ảnh hưởng đến cung và cầu tiền và vì thế ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Giả định rằng lãi suất của Mỹ tăng trong khi lãi suất của Anh giữ nguyên không đổi.
Trong trường hợp này, các công ty Mỹ có khả năng sẽ giảm nhu cầu của họ đối với đồng bảng Anh vì giờ đây lãi suất của Mỹ hấp dẫn hơn một cách tương đối so với lãi suất Anh và vì thế có ít đầu tư vào các khoản ký gởi tại ngân hàng Anh. Đồng thời, các công ty Anh sẽ thiết lập các khoản ký gởi vào ngân hàng Mỹ nhiều hơn dẫn đến cung bảng Anh tăng.2 : Tác động của sự gia tăng lãi suất ở Mỹ đến giá trị cân bằng của đồng bảng Anh Giá trị đồng bảng S $1.50 D D2 Số lượng đồng bảng 9 c. Lãi suất thực : Trong khi lãi suất cao tương đối có thể thu hút đồng vốn nước ngoài (để đầu tư vào các chứng khoán có lãi suất cao) thì lãi suất cao này có thể phản ánh dự kiến lạm phát cao. Vì lạm phát cao có thể đặt áp lực giảm giá lên đồng tiền của nước đó nên không khuyến khích các nhà đầu tư mua.
Vì lý do đó, cần thiết phải xem xét lãi suất thực, là lãi suất danh nghĩa đã điều chỉnh theo theo tỷ lệ lạm phát. Theo hiệu ứng Fisher : Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát Chúng ta thường so sánh lãi suất thực giữa các quốc gia để đánh giá những biến động của tỷ giá hối đoái bởi lẽ nó kết hợp giữa lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát mà cả hai nhân tố này đều ảnh hưởng đến tỷ giá. Khi các nhân tố khác không đổi, sẽ có một tương quan cao giữa chênh lệch lãi suất thực của hai quốc gia với tỷ giá của hai đồng tiền của hai nước đó. Thu nhập tương đối : Nhân tố thứ ba tác động đến tỷ giá hối đoái là mức thu nhập tương đối.
Giả định rằng, thu nhập của Mỹ tăng đáng kể trong khi thu nhập của Anh vẫn không thay đổi. Đầu tiên, đường cầu bảng Anh sẽ dịch chuyển ra phía ngoài phản ánh một sự gia tăng trong thu nhập của Mỹ và vì thế làm tăng nhu cầu về hàng hóa Anh của người Mỹ. Thứ hai, đường cung bảng Anh không đổi. Vì thế tỷ giá cân bằng của đồng bảng Anh tăng lên như trong hình sau : Hình 1.3 : Tác động gia tăng thu nhập của Mỹ đến giá trị cân bằng của đồng bảng Anh Giá trị đồng bảng S $1.50 D D2 Số lượng đồng bảng e.
Kiểm soát của chính phủ : Chính phủ nước ngoài có thể tác động đến tỷ giá cân bằng qua nhiều cách khác nhau như (1) áp đặt những rào cản về 10 ngoại hối, (2) áp đặt những rào cản về ngoại thương, (3) can thiệp vào thị trường ngoại hối và (4) tác động đến những biến động vĩ mô như lạm phát, lãi suất và thu nhập quốc dân. Kỳ vọng : Giống như các thị trường tài chính khác, thị trường ngoại hối phản ứng lại với các thông tin trong tương lai có liên quan đến tỷ giá. Ví dụ : tin về gia tăng lạm phát tiềm ẩn ở Mỹ có thể làm những nhà đầu cơ bán đôla do dự kiến đồng đôla sẽ giảm giá trong tương lai. Điều này gây áp lực giảm giá trị của đồng đôla ngay lập tức.
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với các biến số khác trong nền kinh tế Trong số các yếu tố quyết định của tỷ giá hối đoái, lạm phát thường được coi như là yếu tố quan trọng nhất. Lý thuyết ngang giá sức mua quy định mối liên hệ chính xác giữa các tỷ lệ lạm phát tương đối và tỷ giá hối đoái của hai nước. Chênh lệch lãi suất giữa hai nước là một yếu tố quyết định quan trọng khác của tỷ giá hối đoái. Lý thuyết hiệu ứng Fisher quốc tế quy định mối liên hệ chính xác giữa lãi suất tương đối và tỷ giá hối đoái của hai quốc gia.4 : Mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và tỷ giá Ngang giá lãi suất (IRP) Tỷ giá kỳ hạn Phần bù hoặc Chiết khấu Hiệu ứng Fisher Chênh lệch Chênh lệch lãi suất lạm phát PPP Hiệu ứng Fisher quốc tế (IFE) Tỷ giá hối đoái kỳ vọng Mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái qua các lý thuyết ngang giá lãi suất (IRP), ngang giá sức mua (PPP) và Hiệu ứng Fisher quốc tế (IFE) như sau : 11 Bảng 1.5 : So sánh lý thuyết ngang giá lãi suất, ngang giá sức mua và hiệu ứng Fisher quốc tế Các biến số chính của Lý thuyết Tóm tắt lý thuyết lý thuyết Tỷ giá kỳ hạn giữa hai đồng tiền sẽ chứa một phần bù (hay chiết khấu) được xác Phần bù định bởi chênh lệch trong lãi suất giữa Ngang giá Chênh (chiết hai nước.
Kết quả, kinh doanh chênh lệch lãi suất lệch lãi khấu dài có phòng ngừa trên thị trường tiền tệ (IRP) suất hạn) nước ngoài sẽ thu được một tỷ suất sinh lợi không cao hơn tỷ suất sinh lợi trong nước. Tỷ giá giao ngay của một đồng tiền so với một đồng tiền khác sẽ thay đổi để đáp ứng Phần trăm Ngang giá Chênh lệch chênh lệch trong tỷ lệ lạm phát giữa hai thay đổi sức mua tỷ lệ lạm nước. Kết quả, sức mua của người tiêu trong tỷ giá (PPP) phát dùng khi mua hàng hóa ở nước họ sẽ giao ngay tương tự với sức mua khi nhập hàng hóa từ nước ngoài. Tỷ giá giao ngay của một đồng tiền so với một đồng tiền khác sẽ thay đổi theo sai biệt trong lãi suất giữa hai nước.
Kết quả, Hiệu ứng Phần trăm tỷ suất sinh lợi từ kinh doanh chênh lệch Fisher thay đổi Chênh lệch không phòng ngừa trên thị trường tiền tệ quốc tế trong tỷ giá lãi suất nước ngoài tính bình quân sẽ không cao (IFE) giao ngay hơn tỷ suất sinh lợi trên thị trường tiền tệ nội địa từ góc nhìn của các nhà đầu tư trong nước. Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với lãi suất : Mối quan hệ giữa lãi suất trên thị trường tiền tệ với tỷ giá trên thị trường hối đoái sẽ được hiểu rõ thông qua việc nghiên cứu hiệu ứng Fisher quốc tế (International Fisher Effect) và lý thuyết ngang giá lãi suất. Hai lý thuyết này khác nhau ở các hàm ý. Lý thuyết ngang giá lãi suất chú ý luận giải vì sao tỷ giá kỳ hạn khác với tỷ giá giao ngay và mức độ chênh lệch sẽ có.
Lý thuyết này liên quan đến 12 một thời điểm nhất định (tỷ giá kỳ hạn), khẳng định tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng sự sai biệt trong lãi suất.