chương 1 đề cập đến đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu và bố cục trình bày từng nội dung được đề cập chi tiết trong các chương sau. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG Nội dung chương 2 đề cập đến các cơ sở lý thuyết liên quan tới tỷ giá, giao dịch xuất nhập khẩu trong mối quan hệ thương mại song phương cũng như các yếu tố vi mô, vĩ mô tác động lên việc điều chỉnh tỷ giá. Bên cạnh đó, nội dung chương 2 còn dựa trên nghiên cứu đã được công bố của các chuyên gia nghiên cứu trong nước và ngoài nước nhằm mục đích đưa ra tính thuyết phục cho đề tài đang nghiên cứu và để đưa ra mô hình nghiên cứu trong đề tài mà tác giả đang thực hiện.1 Khung khái niệm xuất nhập khẩu 2.1 Lý thuyết về xuất nhập khẩu Theo điều 28 số 36/2005/QH11 Luật Thương mại đưa ra định nghĩa về hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu như sau: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (căn cứ theo mục 1 điều 28 số 36/2005/QH11 Luật Thương mại). Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (căn cứ theo mục 2 điều 28 số 36/2005/QH11 Luật Thương mại).
Hoạt động xuất nhập khẩu là cầu nối kinh tế và thị trường giữa các quốc gia với nhau. Nghĩa là, hoạt động xuất nhập khẩu và việc trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển nền kinh tế và tăng trưởng không chi ở Việt Nam mà còn các quốc gia có giao dịch thương mại. Tùy theo từng hoạt động xuất khẩu hay nhập khẩu sẽ có góc độ thay đổi tác động đến tăng trưởng kinh tế: 8 Đối với hoạt động xuất khẩu: góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế như việc gia tăng nguồn thu ngoại tệ. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu góp phần thúc đẩy phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản xuất trong nước giữa các lĩnh vực kinh tế về mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước.
Và quan trọng nhất là việc giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động nhằm cải thiện GDP trong nước. Đối với hoạt động nhập khẩu: là hoạt động thúc đẩy sự đa dạng mặt hàng về chủng loại, quy cách, mẫu mã để đáp ứng nhu cầu nội địa. Đồng thời, hoạt động này làm gia tăng sự cạnh tranh giữa hàng nội địa và hàng nhập khẩu. Bên cạnh đó, hoạt động nhập khẩu còn tạo ra quá trình chuyển giao công nghệ để hỗ trợ cũng như cân bằng trình độ sản xuất, tiết kiệm chi phí và thời gian.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu bao gồm chính sách, kinh tế, luật pháp, cạnh tranh và văn hóa.
Về chính sách: căn cứ theo kế hoạch phát triển của quốc gia, chính phủ sẽ có những chính sách khuyến khích hoạt động xuất khẩu thông qua các ưu đãi về thuế hoặc thiết lập cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới hoạt động xuất khẩu. Về kinh tế: bao gồm tỷ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng… sẽ tác động đến hoạt động xuất khẩu như cơ hội kinh doanh, quy mô, cơ cấu tổ chức, hiệu quả doanh nghiệp thông qua sản xuất, phân bổ vốn, lao động và giá trị hàng hóa dịch vụ xuất khẩu. Về luật pháp: hệ thống pháp luật cũng tác động đến hoạt động xuất khẩu thông qua các quy định về hợp đồng giao dịch, các chính sách chế độ người lao động, các loại thuế trực tiếp và gián tiếp. 9 Về cạnh tranh: hoạt động xuất khẩu sẽ dẫn đến việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và với quốc tế, do đó việc đầu tư máy móc công nghệ để tạo ra các sản phẩm đạt đủ các tiêu chuẩn, tiêu chí để xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dung.
Tuy nhiện, sự cạnh tranh cũng sẽ dẫn đến việc chạy đua về cải tiến công nghệ sẽ dẫn đến vấn đề khó khăn về vốn để doanh nghiệp đầu tư, đẩy mạnh và mở rộng sản xuất. Về văn hóa: một trong những yếu tố ảnh hưởng đến thị hiếu của người tiêu dùng. Để đẩy mạnh được hoạt động xuất khẩu, thì phải hiểu rõ văn hóa của mỗi quốc gia nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, đồng thời giúp doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược đúng đắn trong việc thúc đẩy và mở rộng thị trường xuất khấu.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nhập khẩu bao gồm cả các yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó, có thể kể đến như định hướng về phát triển kinh tế - xã hội, khả năng cung ứng của nước xuất khẩu, hay chính sách ngoại thương. Bao gồm: Định hướng phát triển kinh tế - xã hội: Chính phủ ở các quốc gia sẽ có những định hướng khác nhau tuỳ theo sự phát triển kinh tế của từng thời kì.
Do đó, hoạt động nhập khẩu sẽ bị ảnh hưởng tuỳ theo thời kì mà Chính phủ đang thực hiện khuyến khích hay hạn chế nhập khẩu. Kết quả nhập khẩu theo đó cũng sẽ bị ảnh hưởng theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Khả năng cung ứng của nước xuất khẩu: Khả năng cung ứng thể hiện việc quốc gia xuất khẩu có khả năng đáp ứng nhu cầu về mặt hàng đó cho nước nhập khẩu hay không. Và điều này cũng ảnh hưởng đến kết quả nhập khẩu của Việt Nam.
Chính sách ngoại thương trong nước: Tuỳ theo từng thời kì, mà chính sách ngoại thương của Chính phủ đưa ra cũng sẽ có sự thay đổi: mở rộng hoặc thắt chặt quan hệ ngoại thương với các quốc gia trên thế giới. Do đó, chính sách ngoại thương theo từng thời kì cũng sẽ ảnh hưởng đến kết quả nhập khẩu của Việt Nam. 10 Sự biến động của thị trường nước ngoài: Trong thời đại kinh tế toàn cầu hoá như hiện nay, các quốc gia trên thế giới luôn có mối quan hệ kinh tế trao đổi và tác động lẫn nhau. Do đó, khi thị trường thế giới có sự biến động, thì tất nhiên sẽ luôn có ảnh hưởng đến thị trường trong nước.
Điều này sẽ tác động đến kết quả nhập khẩu của Việt Nam. Năng lực của các chính sách xuất nhập khẩu: Chính sách xuất nhập khẩu là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả nhập khẩu của một quốc gia. Các chính sách xuất nhập khẩu cần phải phát huy được đầy đủ năng lực, thì mới có thể định hướng được hoạt động xuất nhập khẩu đi theo được mục tiêu đã đề ra. Do đó, năng lực phát huy của các chính sách này cũng sẽ ảnh hưởng đến kết quả nhập khẩu của Việt Nam.
Các xu hướng biến động của nền kinh tế thế giới tác động tới Việt Nam: Việt Nam hiện nay đã thiết lập quan hệ, hợp tác kinh doanh với 160 quốc gia và 70 vùng lãnh thổ trên thế giới. Do đó, các xu hướng biến động của nền kinh tế thế giới cũng sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam, trong đó, có kết quả hoạt động nhập khẩu.2 Các lý thuyết về tác động của tỷ giá đến thương mại quốc tế 2.1 Lý thuyết về tỷ giá 2.1 Lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá và giá cả Học thuyết ngang giá sức mua (PPP – Purchasing Power Parity) là phương pháp điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa hai tiền tệ để cân bằng sức mua của hai đồng tiền này. Hay nói cách khác, sự chênh lệch giá trị tiền tệ giữa hai quốc gia trong giao dịch thương mại sẽ được điều chỉnh và cân bằng thông qua việc áp dụng tỷ giá hối đoái (Gustav, 1918). Xét về tổng thể, lý thuyết này cho thấy khi có sự gia tăng năng lực sản xuất trong nước sẽ làm tăng giá trị đồng nội tệ so với ngoại tệ.
Bên cạnh đó cũng có những yếu tố nhất thời tác động đến PPP chẳng hạn như những biến động trong thị trường hàng hoá và tiền tệ. Ngoài ra, dòng chu chuyển vốn cũng chịu sự tác động bởi sự tác động trong chính sách tài khoá và tiền tệ (Khánh, 2009). Bên cạnh đó, Cheung, 11 Yin-Wong và Kon S. Lai (2000) tiến hành một phân tích quy mô lớn và tìm thấy tính không đồng nhất đáng kể trong vận dụng lý thuyết PPP giữa các quốc gia đang phát triển so với các quốc gia phát triển.2 Lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá và lãi suất Fisher's Monograph Appreciation and Interest năm 1896, đưa ra mối quan hệ giữa hai đồng tiền, Fisher đã thiết lập điều kiện cân bằng hay còn gọi là lý thuyết kỳ vọng về cấu trúc kỳ hạn của lãi suất, cho rằng lãi suất chỉ được điều chỉnh dần dần, đo đó sự biến động giá cả sẽ có biến động rõ ràng trong dài hạn hơn là so với ngắn hạn.
Lý thuyết về ngang giá lãi suất (Interest Rate parity – IRP) cho rằng tỷ giá hối đoái được xác định giữa hai loại tiền tệ dựa trên mức lãi suất hiện hành ở hai nước này. Ngay khi các áp lực thị trường làm cho lãi suất và tỷ giá thay đổi thì hoạt động kinh doanh chêch lệch lãi suất phòng ngừa không còn khả thi, thì thị trường sẽ ở trạng thái cân bằng gọi là IRP. Trong thế cân bằng này, sự khác nhau giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay giữa hai đồng tiền được bù đắp đúng bằng chênh lệch lãi suất giữa hai nước đó. Tuy nhiên sự chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia giao dịch thương mại sẽ không tạo ra lợi nhuận, vì các khoản gia tăng giá trị lại căn cứ vào sự khác biệt lãi suất và sẽ được bù trừ khi điều chỉnh tỷ giá vào cuối thời gian đầu tư.3 Mô hình Mundell-Fleming Vào đầu những năm 1960, J.
Marcus Fleming và Robert Mundell đã nghiên cứu mở rộng mô hình kinh tế vĩ mô Keynes theo mô hình kinh tế mở để xem xét một cách có hệ thống vai trò của dòng vốn quốc tế. Các nghiên cứu đã nhanh chóng có ảnh hưởng và trở thành một tài liệu có giá trị cao đối với quá trình hoạch định chính sách tiền tệ của các quốc gia.