CHƯƠNG 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TRONG KHUÔN KHỎ WTO 1. Khái niệm về Thương mại dịch vụ 1. Thương mai dịch vụ và dịch vụ thương mại a) Dịch vụ là gì? Các hoạt động dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong nên kinh tế của nhiều quốc gia trên thé giới. Cùng với điều đó, dịch vụ và những vấn đề liên quan đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Tính vô hình và khó năm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp của các loại hình dịch vụ làm cho việc nêu ra một định nghĩa rõ ràng về dịch vụ trở nên khó khăn. Hơn nữa, các quốc gia khác nhau có cách hiểu về dịch vụ không giống nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ngay cả Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (Tiếng anh là General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS) của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO cũng không nêu khái niệm về Dịch vụ mà chỉ liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn và 155 phân ngành khác nhau năm trong phạm vi điều chỉnh của Hiệp định.
Cuốn “Balance of Payment Manual” fifth edition- BPM5 của IMF hướng dan cách phân loại và thống kê số liệu về xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ đã liệt kê dịch vụ thành 3 nhóm lớn là vận tải, du lịch và các dịch vụ thương mại khác. Mỗi nhóm này lại được chia thành các mục nhỏ hơn. Qua nghiên cứu va tiếp cận khái niệm dịch vụ trên nhiều khía cạnh nhăm đi đến sự thống nhất về khái niệm và nội hàm của dịch vụ cho thấy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận nhưng cách định nghĩa kinh điển dựa trên tính chất của dịch vụ là định nghĩa chuyền tải được những nội dung cơ bản và đầy đủ nhất về dịch vụ: Dịch vụ là sản phẩm vô hình và không thé cầm nắm được. Định nghĩa này nêu lên được hai đặc điểm cơ bản của dịch vụ.
Thứ nhất, dịch 14 Diéu chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại dịch vụ Lê Văn Sang vụ là một “sản phẩm”, là kết quả của quá trình lao động và sản xuất nham thoả mãn một nhu cau nào đó của con người. Thứ hai, khác với hang hoá là cái hữu hình, dịch vụ là vô hình, phi vật chất và không thể lưu trữ được. Dịch vụ không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất dưới dạng những sản phẩm hữu hình nhưng chúng lại tạo ra giá trị thặng dư do có sự khai thác sức lao động, tri thức, chất xám của con người. Dịch vụ kết tỉnh các hoạt động đa dạng trên các lĩnh vực như tài chính, vận tải, bảo hiểm, kiểm toán, kế toán, tư vấn pháp lý.
Khác với hàng hoá là cái hữu hình, dịch vụ là vô hình và phi vật chất. Chính điểm khác nhau cơ bản này giữa sản phẩm hang hoá hữu hình với sản phẩm dich vụ vô hình đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới cách thức tiễn hành các hoạt động thương mai hàng hoá và hoạt động thương mai dịch vụ ở phạm vi từng quốc gia cũng như ở phạm vi quốc tế. Vì dịch vụ là vô hình nên các quốc gia cũng đã tốn không ít công sức và thời gian để xây dựng được các quy chuan pháp lý điều chỉnh các hoạt động cung ứng dịch vụ nói chung và các hoạt động thương mại dịch vụ nói riêng. b) Thương mại dịch vụ Dịch vụ ngày càng tham gia sâu rộng vào thương mại.
Điều nay không chỉ xuất phát từ nhu cầu của các đơn vị sản xuất kinh doanh với mong muốn trực tiếp tiếp tục hoàn thiện sản phẩm của minh trong lưu thông mà còn xuất phát từ sự phân công lao động xã hội khiến cho dịch vụ trở thành các ngành sản xuất độc lập với sản pham là các dich vụ chuyên nghiệp. Và dich vụ đã trở thành đối tượng của thương mại với tỷ trọng trong thương mại ngày càng tăng. Thương mại dịch vụ (tiếng anh là trade in services hay services trade) là khái niệm chi các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dich vụ hay nói chính xác hơn, là khái nệm được dùng dé nhân mạnh khía cạnh thương mại, tính chất thương mại trong lĩnh vực dịch vụ. Với cách hiểu này, người ta thường phân biệt thương mại dich vụ với thương mại hàng hoa.
Nếu như đối tượng mua bán trong thương mại hàng hoá là hàng hoá - các sản phâm hữu hình thì 15 Diéu chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại dịch vụ Lê Văn Sang trong thương mại dịch vụ, đối tượng mua bán lại là dịch vụ - các sản phẩm vô hình, “là những thứ mà khi đem bán không thé rơi vào chân bạn”[46; tr7]. Chính đặc điểm này đã làm nên sự khác biệt trong cách điều chỉnh của pháp luật quốc gia, pháp luật khu vực và thậm chí là của pháp luật quốc tế về thương mại dịch vụ so với thương mại hàng hoá. Các nhà kinh tế định nghĩa dịch vụ là thứ có thể mua hoặc bán nhưng không thể cầm, nắm, nhìn thấy được. Dịch vụ không được định nghĩa trong WTO.
Trong WTO/GATS không có điều khoản nao nói rõ bản chất của thương mại dịch vụ mà thương mại dịch vụ được định nghĩa bằng cách liệt kê 11 ngành chính, mỗi ngành chính lại phân chia thành nhiều phân ngành nhỏ, tong cộng là 155 phân ngành và thông qua 4 phương thức cung cấp là: 1) cung cấp qua biên giới; 2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ; 3) hiện điện thương mại; 4) hiện diện thé nhân. c) Dịch vụ thương mai Dịch vụ thương mại là khái niệm chưa có sự thống nhất, chưa có sự chuẩn hóa và cũng ít có các tài liệu phân tích khái niệm và nội hàm dịch vụ thương mại một cách hệ thống. Tuy nhiên, trong thực tế, ở một số nước, nơi mà hoạt động thương mại dịch vụ chưa phát triển, người ta thường hay dùng khái niệm dịch vụ thương mại thay vì dùng khái niệm thương mại dịch vụ (ví dụ như ở Việt Nam, tại điều 5 khoản 2 Luật Thương mại Việt Nam năm 1997). Và chính vì vậy, dịch vụ thương mại (tiếng Anh là services in trade) được hiểu là các loại hình dịch vu gắn liền và phục vụ cho việc mua bán hàng hoá- sản phẩm hữu hình, ví dụ như dịch vụ vận tải - giao nhận, dịch vụ quảng cáo, dịch vụ giám định hàng hoá,.
Với cách hiểu như vậy, đôi khi, người ta thường cho rằng dịch vụ thương mại là một nhánh nhỏ, là một phân ngành nhỏ trong toàn bộ hệ thống ngành (hay hệ thống lĩnh vực) thương mai dich vụ, là một bộ phận của thương mại dịch vụ có quan hệ chặt chẽ với thương mại hàng hóa. ĐỀ có sự phân biệt rõ hơn hai khái niệm trên, trước hết cần có sự hiểu biết đầy đủ hơn về dịch vụ. 16 Diéu chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại dịch vụ Lê Văn Sang 1. Đặc điểm, cách phân loại và vai trò của thương mại dịch vụ trong nên kinh té quốc dân và trong thương mại quốc té a) Đặc điểm của dịch vụ Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ được thừa nhận rộng rãi gồm: Thứ nhất, dịch vụ là vô hình nên khó xác định.
Quá trình sản xuất hàng hóa tạo ra những sản phâm hữu hình có tinh chat cơ, lý, hoá hoc,. nhất định, có tiêu chuẩn về kỹ thuật cụ thé và do đó có thé sản xuất theo tiêu chuẩn hóa. Khác với hàng hóa, sản phẩm dịch vụ không tỒn tại dưới dạng vật chất băng những vật phẩm cụ thể, không cầm nắm được, không nhìn thấy được và do đó không thể xác định chất lượng dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa. Chính vì vậy, các công tác lượng hoá, thống kê, đánh giá chất lượng và quy mô cung cấp dich vụ của một công ty, nếu xét ở tam vi mô và của một quốc gia, nếu xét ở tầm vĩ mô, trở nên khó khăn hơn so với hàng hoá hữu hình rất nhiều.
Thứ hai, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ thường xảy ra đông thời. Trong nền kinh tế hàng hóa, sản xuất hàng hóa tách khỏi lưu thông và tiêu dùng. Do đó hàng hóa có thé được lưu kho dé dự trữ, có thé vận chuyền đi nơi khác theo cung cầu của thị trường. Khác với hàng hóa, quá trình cung ứng dịch vụ gắn liền với tiêu dùng dịch vụ.
Ví dụ, với dịch vụ tư vấn đầu tư, khi chuyên gia về đầu tư cung cấp dịch vụ tư vấn cũng là lúc người sử dụng dịch vụ tiếp nhận và tiêu dùng xong dịch vụ tư vấn do người chuyên gia này cung ứng. Thông thường, việc cung ứng dịch vụ đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung ứng và người tiêu dùng dịch vụ. Thứ ba, dịch vụ không lưu trữ được. Do sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lưu giữ trong kho sau đó mới tiêu dùng.
Với cách hiểu đó, dịch vụ là sản phâm không lưu trữ được và trong cung ứng dịch vụ không có khái niệm tồn kho hoặc dự trữ sản phẩm dich vụ. Đây là những đặc điểm cơ bản dé phân biệt sản phẩm dịch vụ vô hình với san phâm hang hóa hữu hình. Tuy nhiên cần phải thấy răng sẽ 17 Diéu chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại dịch vụ Lê Văn Sang không tổn tại một sự phân biệt tuyệt đối. Chang hạn, một số loại hình dich vụ, khi kết thúc quá trình cung ứng sẽ tạo ra sản phẩm có hình thái vật chất như bản photocopy (đối với dịch vụ photocopy).
Hệ thống dịch vụ trả lời điện thoại tự động không đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung ứng và người tiêu dùng và, về một khía cạnh nào đó, có thé coi đó là sản phẩm lưu trữ được. Hầu như trong mọi hoạt động cung ứng dịch vụ đều có sự xuất hiện của các sản phẩm hữu hình như là các yếu tố phụ trợ. Cũng như vậy, khi tiễn hành mua bán trao đổi bất kỳ hàng hoá hữu hình nào cũng đều cần đến các dịch vụ hỗ trợ. Người ta thấy rằng sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các hoạt động kinh tế cũng như tính phức tạp của chúng làm cho việc phân biệt giữa các ngành kinh tế trở nên thực sự khó khăn.
Điều này cũng giải thích rằng sự phân biệt giữa dịch vụ và hàng hóa chỉ mang tính chất tương đối. Dịch vụ và hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.