Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao NLCT của doanh nghiệptrong điều kiện hội nhập WTO Chương 2: Thực trạng NLCT của DNNN Việt Nam trong môi trường WTO Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh NLCT của DNNN ở Việt Nam trong môi trường WTO 8 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP WTO 1.1 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm và các yếu tố cấu thành 1. Khái niệm *Cạnh tranh Có nhiều cách định nghĩa về cạnh tranh, tùy theo từng giác độ nghiên cứu. Ở phạm vi doanh nghiệp, cạnh tranh nhằm mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận tối đa.Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” [18, 60].
Nghiên cứu về quá trình sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Marx đã phát hiện ra kết quả của cạnh tranh trong chủ nghĩa tư bản là quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân, từ đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường và giá cả sản xuất. Theo cách định nghĩa của Đại từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) thì: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền KTTT, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”. Theo quan niệm này, các chủ thể của cạnh tranh là các chủ thể kinh tế và mục đích của cạnh tranh là giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng vẫn là theo đuổi mục tiêu lợi nhuận tối đa.
Từ điển Kinh tế kinh doanh Anh – Việt định nghĩa rằng: “Cạnh tranh là sự đối nghịch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành 9 z được nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất. Định nghĩa này khẳng định cạnh tranh diễn ra giữa các doanh nghiệp trên cùng một thị trường nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận; đồng thời cũng chỉ ra hai phương thức cạnh tranh cơ bản là hạ thấp giá bán hoặc nâng coa chất lượng sản phẩm. Các định nghĩa trên tuy có sự khác biệt về phạm vi diễn đạt nhưng có những nét tương đồng về nội dung. Từ đó, có thể hiểu cạnh tranh trong nền KTTT là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như những điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Theo đó, để có sự cạnh tranh thì cần phải có các điều kiện tiên quyết sau: Thứ nhất, phải có nhiều chủ thể cùng tham gia cạnh tranh với nhau, các chủ thể có cùng mục đích, mục tiêu, tức là phải có một đối tượng mà chủ thể cùng hướng đến chiếm đoạt. Ví dụ như các doanh nghiệp cùng sản xuất, kinh doanh những sản phẩm tương tự nhau, phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng sẽ cạnh tranh với nhau trong việc tìm các nguồn nguyên nhiên vật liệu tốt nhất với chi phí thấp nhất, và mở rộng thị phần của mình. Thứ hai, việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung về pháp lý hoặc các cam kết mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ.
Các ràng buộc này chính là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng, các ràng buộc của luật pháp và thông lệ kinh doanh ở trên thị trường. Còn giữa người mua với người mua, 10 z hoặc giữa những người mua và người bán sẽ dẫn tới các thỏa thuận phù hợp với lợi ích của các bên tham gia. Thứ ba, cạnh tranh phải diễn ra trong một khoảng thời gian, không gian cố định, thời gian có thể ngắn (trong từng vụ việc cụ thể) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh). Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng không gian hẹp như một tổ chức, một địa phương, một ngành, cũng có thể diễn ra trong không gian rộng là một quốc hay giữa các quốc gia trong khu vực và trên toàn cầu.
*Năng lực cạnh tranh Khái niệm NLCT của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Dưới đây là một số cách tiếp cận cụ thể về NLCT của doanh nghiệp đáng chú ý. Một là, NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó NLCT là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp.
Cách quan niệm này có thể gặp trong các công trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995), Buckley (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước như của CIEM (Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế). Cách quan niệm như vậy tương đồng với cách tiếp cận thương mại truyền thống đã nêu trên. Hạn chế trong cách quan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, chưa phản ánh một cách bao quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Hai là, NLCT của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác.
Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ đưa ra định nghĩa: NLCT là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới. Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: NLCT là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác 11 z đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về NLCT như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng. Ba là, NLCT đồng nghĩa với NSLĐ.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): NLCT của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Porter (1990), NSLĐ là thức đo duy nhất về NLCT. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp. Bốn là, NLCT đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh.
Chẳng hạn, TS. Vũ Trọng Lâm cho rằng: “NLCT của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp” [24;21]. Trần Sửu cũng có ý kiến tương tự: “NLCT của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững” [27;27]. Đỗ Thế Tùng cũng cho rằng: “NLCT của doanh nghiệp được hiểu là thế và lực của doanh nghiệp so với các đối thủ trên thị trường trong việc cung cấp những sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu có khả năng thanh toán của khách hàng, nhờ đó mà chiếm lĩnh được thị phần nhất định và thu được khoản lợi nhuận tương ứng” [48;1].
Theo đó, NLCT của doanh nghiệp có được là do sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp đó đưa ra thị trường quyết định. Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất NLCT của doanh nghiệp với năng lực kinh doanh. Như vậy, cho đến nay quan niệm về NLCT của doanh nghiệp vẫn chưa được hiểu thống nhất. Do đó, để có thể đưa ra quan niệm NLCT của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây: Thứ nhất, quan niệm NLCT cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ.
Chẳng hạn, trong nền KTTT tự do trước đây, 12 z cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và NLCT đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh; trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa háo số lượng hàng hóa nên NLCT thể hiện ở thị phần; còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về NLCT cũng phải phù hợp với điều kiện mới. Thứ hai, NLCT cần thể hiện khả năng tranh đua, tranh giành về các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới. Thứ ba, NLCT của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và cả những phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế. Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm NLCT của doanh nghiệp như sau: NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững.
*Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở các ưu thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh nhằm đạt được thắng lợi trong cạnh tranh. Ưu thế này có thể dẫn đến chi phí thấp hơn hoặc sự khác biệt trong sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp và được thể hiện tành tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Lợi thế cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải có điểm mạnh so với các 13 z yếu tố nội tại khác của chính nó; đồng thời phải có điểm mạnh so với các yếu tố, chức năng tương ứng của các đối thủ cạnh tranh. *Vị thế cạnh tranh Vị thế cạnh tranh được ví như một bức ảnh chụp doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh tại một thời điểm.
Vị thế cạnh tranh thể hiện vị trí tương đối của doanh nghiệp trên thị trường tại một thời điểm nhất định.